Howl’s Moving Castle~Chương 11-16


Chương 11: trong đó Howl đến một đất nước k lạ để tìm thần chú

Hư không hóa ra cũng chỉ dày một inch thôi. Phía sau nó, trong buổi chiều u ám, mưa rơi lắc rắc, là con đường xi-măng dẫn tới một cánh cổng vườn. Howl và Michael đang đứng đợi ở cổng. Phía xa hơn là một con đường bằng phẳng, cứng cáp với dãy nhà đứng hai bên. Sophie nhìn trở lại nơi cô vừa bước ra, hơi run trong cơn mưa, và nhìn thấy tòa lâu đài biến thành một ngôi nhà gạch màu vàng với nhiều cửa sổ lớn. Như những ngôi nhà khác, nó có hình hộp mới toanh, cửa chính làm bằng kính dợn sóng dầy cộm. Không có ai bên ngoài các ngôi nhà. Có thể là vì họ đã đi tránh mưa, nhưng Sophie có một cảm giác, mặc dù có rất nhiều nhà cửa, nơi này thực chất là ngoại ô của một thành phố.

“Chừng nào bà xong việc chĩa mũi dài,” Howl gọi. Bộ áo xám đỏ bị mưa làm thấm ướt. Trên tay anh cầm lủng lẳng một chùm chìa khóa kì lạ, hầu hết đều phẳng lì, vàng vàng, và trùng màu với mấy ngôi nhà. Khi Sophie xuống đường, anh nói, “Ta cần phải đổi trang phục để hợp với chỗ này.” Quần áo anh mờ đi, như thể cơn mưa phùn xung anh trở thành sương mù. Khi mọi thứ trở lại rõ ràng, nó vẫn là bộ áo xám đỏ, nhưng mang hình dạng khác. Hai tay áo dài đã biến mất và bộ quần áo có vẻ rộng lùng thùng. Nó trông có vẻ cũ kỹ và xoàng xĩnh.

Áo jacket của Michael ngắn lên đến eo. Cậu giơ chân lên, một đôi giày bằng vải bạt ở chân, và ngó vào hai ống quần xanh dương bao quanh chân cậu. “Khó cử động chân quá đi,” cậu nói.
“Cậu sẽ quen thôi,” Howl nói. “Đi nào Sophie.”

Sophie ngạc nhiên khi Howl dẫn đường trở lại con đường qua vườn trở lại ngôi nhà màu vàng. Trên lưng áo jacket lụng thụng của anh, cô thấy, có dòng chữ bí ẩn trên đó: WELSH RUGBY. Michel theo sau Howl, tướng đi khá cứng ngắc vì những vật trên chân. Sophie nhìn xuống mình và thấy phần chân gầy được lộ ra gấp hai lần bình thường trên đầu gối. Nhưng những cái khác về cô thì không thay đổi.

Howl dùng chìa khóa mở một cánh cửa kính. Nó có miếng gỗ lúc lắc bên cạnh trên chùm chìa khóa. RIVENDELL, Sophie thoáng thấy, khi Howl đẩy cô vào bên trong một hành lang nhỏ, sạch sẽ. Dường như đang có người ở trong nhà. Âm thanh ầm ĩ phát ra từ sau cánh cửa gần nhất. Khi Howl mở cánh cửa, Sophie nhận ra những tiếng nói đó phát ra từ những hình ảnh màu có phép thuật đang chuyển động trong một cái hộp to lớn.

“Howell!” người phụ nữ đang ngồi đan áo thốt lên.

Cô đặt áo xuống, trông có vẻ hơi bực mình, nhưng trước khi cô đứng dậy, một đứa bé gái, đang nghiêm túc ngồi xem hình ảnh ma thuật với hai tay đặt trên má, ngồi bật dậy và nhào đến Howl. “Cậu Howell!” cô bé hét lên, và nhảy chồm lên Howl, hai chân choàng qua người anh.

“Mari!” Howl oang oang trả lời. “Cháu khỏe không, bé yêu? Vẫn ngoan chứ?” Anh và đứa bé gái cùng lúc nói một ngôn ngữ khác, rất nhanh và ồn ào. Sophie có thể thấy hai người rất đặc biệt với đối phương. Cô không biết ngôn ngữ đó. Nó giống như bài hát ngốc nghếch về cái chảo chiên của Calcifer, nhưng thật khó mà khẳng định được. Giữa những tiếng ríu rít của thứ ngôn ngữ mới, Howl cũng xen lẫn vào lời giới thiệu như người đang nói tiếng bụng, “Đây là cháu gái của tôi, Mari, và chị tôi, Megan Parry. Megan, đây là Michael Fisher và Sophie… er…”

“Hatter,” Sophie thêm.

Megan miễn cưỡng bắt tay hai người, tỏ vẻ không ưa gì. Cô ta lớn tuổi hơn Howl, nhưng khá giống anh, khuôn mặt dài, xương xương, nhưng mắt cô màu xanh biếc và lộ nét băn khoăn, tóc cô màu đen sẫm. “Yên lặng nào, Mari!” cô gắt lên chặn ríu rít xa lạ. “Howell, cậu có ở lại lâu không?”

“Chỉ về thăm nhà một chút thôi,” Howl nói, thả Mari xuống đất.

“Gareth còn chưa về,” Megan gằn giọng.

“Đáng tiếc thật! Chúng ta không thể ở lại,” Howl trả lời, miệng nở nụ cười ấm áp giả tạo. “Em chỉ nghĩ sẽ giới thiệu chị với mấy người bạn. Và hỏi chị điều hơi ngốc nghếch này. Neil có làm mất bài tập tiếng Anh nào gần đây không?”

“Thật kỳ lạ là cậu nói thế!” Megan kêu lên. “Thằng bé lùng tìm tờ giấy khắp mọi nơi vào thứ Năm tuần trước! Nó có cô giáo dạy văn mới, và cô đó rất khó khăn, không chỉ về việc đánh vần. Cô ta đe tụi nhỏ phải nộp bài đúng ngày. Cái thằng bé lười biếng đó! Vậy là hôm thứ Năm, tìm bớ cả người lên, nhưng chỉ thấy một tờ giấy cũ kỹ với bài thơ kỳ lạ…”

“Ah,” Howl nói. “Thằng bé làm gì với tờ giấy đó rồi?”

“Chị bảo nó đem nộp cho cô Angorian,” Megain nói. “Để cho cô giáo thấy nó cũng đã cố gắng.”

“Nó có làm vậy không?” Howl hỏi.

“Chị không biết. Hỏi Neil đi. Nó trong phòng với cái máy đó,” Megan nói. “Nhưng em không hỏi được nó nói gì đâu.”

“Đi nào,” Howl nói với Michael và Sophie, cả hai đang trố mắt nhìn căn phòng sáng màu nâu cam. Anh nắm tay Mari, dẫn họ ra khỏi căn phòng và đi thẳng lên lầu. Ngay cả bậc thang cũng trải thảm, màu hồng xanh. Đoàn người do Howl cầm đầu không gây ra tiếng động gì khi đi trên thảm hồng xanh lên cầu thang và vào trong căn phòng trải thảm xanh vàng. Nhưng Sophie không chắc hai cậu bé đang cúi mình ngồi xem mấy cái hộp ma thuật trên bàn lớn cạnh cửa sổ sẽ liếc nhìn ngay cả nếu có một đội quân với đầy đủ kèn trống đi vào. Cái hộp ma thuật chính có kính phía trước như cái ở nhà dưới, nhưng dường như có chữ và sơ đồ nhiều hơn là hình ảnh. Tất cả những cái hộp làm thành một đường dài rải rác cho đến tận chân tường.

“Neil!” Howl kêu.

“Đừng có kêu,” một trong hai đứa trẻ nói. “Nó sẽ mất mạng.”

Nghe tới việc nguy hiểm đến tính mạng, Sophie và Michael lùi dần ra cửa. Nhưng Howl, không có vẻ gì ngại việc giết cháu mình cả, bước đến tường và kéo cái hộp khỏi gốc rễ. Hình ảnh từ màn hình biến mất. Cả hai cậu bé thốt những từ mà Sophie không nghĩ là ngay cả Martha cũng biết. Cậu trai thứ hai quay mặt lại và hét lên, “Mari! Coi chừng anh đó nhe!”

“Lần này đâu phải em. Xí!” Mari hét trả.

Neil quay mình nhiều hơn và liếc nhìn Howl căm ghét. “Khỏe không, Neil?” Howl vui vẻ nói.

“Ai vậy?” cậu trai kia hỏi.

“Ông cậu của tao,” Neil trả lời. Cậu gầm gừ với Howl. Cậu bé có làn da đen thui, lông mày rậm, và vẻ gầm gừ rất có ấn tượng. “Cậu muốn cái gì đây? Gắn dây lại cho cháu.”

“Thật là vui được tiếp đón nồng hậu ở đây!” Howl nói. “Cậu sẽ gắn trả lại khi cháu trả lời cho cậu cái này.”

Neil thở hắt. “Cậu Howell, cháu đang chơi game ngon mà.”

“Trò mới hả?” Howl hỏi.

Cả hai đứa con trai trông vẻ bất mãn. “Không, cái này từ hồi Giáng Sinh,” Neil nói. “Cậu cũng biết bố mẹ lải nhải thế nào về vụ tốn tiền và thời gian với mấy cái vô dụng này. Họ không cho cháu mua cái mới chừng nào đến ngày sinh nhật.”

“Vậy thì dễ thôi,” Howl đáp. “Cháu đã chơi trước rồi thì còn sợ gì nữa, và cậu sẽ hối lộ cháu trò chơi mới …”

“Thật sao?” cả hai hăng hái thốt, và Neil thêm, “Cậu có thể làm một cái nữa mà không có ai có được không?”

“Được. Nhưng cháu phải xem cái này trước và nói với cậu đó là gì,” Howl đưa tờ giấy láng bóng ra trước mặt Neil.

Cả hai cậu trai nhìn vào. Neil phán, “Đó là một bài thơ,” theo cách mà mọi người thường nói, “Đó là con chuột chết.”

“Đó là bài thơ cô Angorian cho bài về nhà làm tuần trước,” cậu bạn kia nói. “Cháu nhớ từ ‘gió’ và ‘vảy cá.’ Nó nói về tàu ngầm.”

Sophie và Michael chớp chớp mắt về cái thuyết mới, thắc mắc tại sao họ lại không đoán ra được. Neil thốt lên, “Hey! Đó là bài tập bị mất tích của cháu. Cậu thấy nó ở đâu? Vậy là cái bài thơ mắc dịch kia là của cậu sao? Cô Angorian nói nó rất thú vị – may cho cháu – và cổ lấy về nhà rồi.”

“Cám ơn,” Howl nói. “Cô giáo sống ở đâu?”

“Cái nhà cạnh tiệm trà của bà Phillips đó. Đường Cardiff,” Neil trả lời. “Chừng nào cậu cho cháu băng mới?”

“Khi nào cháu nhớ phần còn lại của bài thơ,” Howl đáp.

“Không công bằng!” Neil nói. “Cháu không thể nhớ cả phần nằm ở trên đây. Cậu đùa giỡn trên tình cảm của cháu…!” Cậu trai ngừng bặt khi Howl phá lên cười, mò trong túi quần rộng lùng thùng và đưa cho cậu cái túi dẹp. “Cám ơn!” Neil nhiệt thành nói, và không còn gì thêm nữa cậu bé quay trở lại với mấy hộp ma thuật. Howl gắn chùm rễ vào trong tường, cười nhăn răng ra dấu cho Michael và Sophie ra khỏi phòng. Cả hai cậu bé nhanh chóng hòa vào những hành động bí ẩn, trong khi Mari chen vào giữa, và nhìn với ngón tay trong miệng.

Howl nhanh chóng chạy xuống cầu thang hồng xanh, trong khi Michael và Sophie đều lảng vảng trước cửa phòng, thắc mắc về chuyện gì đã xảy ra. Bên trong, Neil đọc lớn. “Bạn đang một lâu đài ma thuật có bốn cánh cửa. Mỗi cánh mở ra một thế giới khác nhau. Trong Thế Giới Thứ Nhất, lâu đài liên tục di chuyển và có thể bị lạc vào nguy hiểm bất cứ lúc nào…”

Sophie nghĩ câu chuyện có vẻ quen quen khi lạch bạch bước xuống cầu thang. Cô thấy Michael đang đứng giữa lưng chừng, vẻ mặt ngượng ngùng. Howl đang đứng dưới chân cầu thang tranh cãi với chị mình.

“Chị nói vậy là nghĩa gì, bán hết sách của em?” cô nghe Howl nói. “Em rất cần một cuốn trong đó. Có phải của chị đâu mà chị bán.”

“Đừng có cắt ngang!” Megan trả lời giọng thấp, dữ dằn. “Nghe kỹ đây! Chị đã nhắc nhiều lần là nơi này không phải kho chứa đồ. Cậu là sự hổ thẹn của chị và Gareth, cứ lang thang trong mấy bộ quần áo lèng phèng, thay vì mua đồ đàng hoàng mà bận như người bình thường, quan biết với mấy người vô công rỗi nghề, đem họ tới nhà này! Bộ cậu muốn kéo chị xuống với cậu hay sao? Đi học cho lắm vào, mà vẫn không kiếm được việc nghiêm túc, chỉ đi lang thang, lãng phí quãng thời gian đi học, lãng phí những sự hi sinh của người khác, lãng phí tiền bạc …”

Megan có thể là đối thủ của dì Fairfax. Giọng cô cứ dông dài bất tận. Sophie bắt đầu hiểu Howl có thói quen trườn đi là do đâu. Megan là loại người làm người ta muốn chuồn nhẹ nhàng ra cửa sau. Không may là lưng Howl bị dồn về phía cầu thang, Sophie và Michael đứng dồn sau lưng.

“… chưa từng làm việc đàng hoàng, chưa từng có công việc làm chị hài lòng, chỉ đem rắc rối cho chị và Gareth, đến đây và chiều con bé Mari đến hư,” Megan lải nhải tiếp tục không ngừng nghỉ.

Sophie đẩy Michael qua một bên và bước thình thịch xuống bậc thềm, trông có vẻ trịnh trọng hết sức. “Đi nào Howl,” cô phán. “Chúng ta phải đi ngay lập tức. Trong khi đứng đây nói chuyện, tiền bạc trôi qua từng phút và các người hầu có lẽ đã đem bán dĩa vàng của ngài. Thật vui được gặp cô,” cô nói với Megan khi bước xuống chân cầu thang, “nhưng chúng tôi phải nhanh chân. Howl là một người rất bận rộn.”

Megan ngậm ngay miệng và ngó Sophie trân trân. Sophie gật đầu chào trịnh trọng và đẩy Howl về phía cánh cửa kính dợn sóng. Mặt Michael đỏ ửng. Sophie nhìn thấy vì Howl quay lưng lại hỏi Megan, “Còn cái xe của em vẫn còn hay là chị đem bán luôn rồi?”

“Cậu là người duy nhất có chìa khóa,” Megan giận dỗi trả lời.

Đó dường như là câu chào tạm biệt. Cánh cửa trước đóng sầm lại và Howl dẫn họ đến nhà kho gần cuối con đường. Howl không nhắc gì đến Megan. Anh nói, khi mở cánh cửa của nhà kho trắng, “Tôi cá là bà cô Văn khó tính có cuốn sách đó.”

Sophie ước gì có thể quên đi phần tiếp theo. Họ bước vào cỗ xe không có ngựa và chạy với tốc độ chóng mặt, tỏa mùi khó chịu, gầm gừ và run bần bật khi nó xông thẳng xuống những con đường dốc nhất mà Sophie từng thấy – dốc sâu đến nỗi cô không biết làm sao mà những ngôi nhà hai bên không trượt tuốt xuống dưới. Cô nhắm mắt lại và nắm chặt tay vào mảnh vải ghế bị bung ra và nguyện cầu cho chuyến đi mau qua.

May mắn thay, chuyến đi kết thúc nhanh chóng. Họ ngừng trên một con đường thẳng hơn, với nhà chen chúc hai bên, cạnh một cánh cửa lớn có màn trắng và tờ giấy viết, ĐÓNG CỬA. Nhưng, mặc kệ tờ giấy thông báo đó, khi Howl bấm một cái nút bên cánh cửa, cô Angorian trả lời. Họ đều nhìn trân trân vào cô. Cho một cô giáo khó tính, cô Angorian trông rất trẻ, mảnh mai và xinh đẹp. Mái tóc đen dài xõa quanh khuôn mặt hình trái tim, và đôi mắt to láy. Điều duy nhất nhắc nhở tính khó khăn của cô là cách đôi mắt to nhìn thẳng thông minh và dường như đang phán đoán họ.

“Tôi đoán anh là Howell Jenkins,” cô Angorian nói với Howl. Giọng cô trầm như âm nhạc có vẻ thách thức và tự tin.

Howl bị giật mình trong giây lát. Rồi nụ cười mở ra. Và đó, Sophie tự nghĩ, là lời vĩnh biệt những giấc mơ đẹp của Lettie và dì Fairfax. Vì cô Angorian chính là loại con gái mà người như Howl có thể yêu ngay lập tức. Và không chỉ Howl, Michael cũng đang nhìn cô ngưỡng mộ. Và dù tất cả những ngôi nhà xung quanh đều có vẻ hoang vắng, Sophie biết rõ chúng đầy những người biết cả Howl và cô Angorian và đang nhìn vẻ tò mò thích thú coi việc gì sẽ xảy ra. Cô có thể thấy những đôi mắt vô hình của họ. Market Chipping cũng giống như vậy thôi.

“Và cô hẳn là cô Angorian,” Howl đáp. “Xin lỗi vì đã làm phiền cô, nhưng tuần trước tôi đã gây ra một lỗi lầm ngu ngốc và đem bài tập của cháu tôi đi thay vì tờ giấy quan trọng của tôi. Tôi đồ rằng Neil nộp cho cô tờ đó để chứng tỏ cháu không lười nhất.”

“Đúng vậy,” cô Angorian nói. “Anh có thể vào và lấy lại nó.”

Sophie chắc chắn mấy cặp mắt vô hình đang căng ra và mấy cái cổ vô hình chĩa dài khi Howl, Michael và cô đi theo sau cánh cửa của cô Angorian, lên một cầu thang lớn vào căn phòng nhỏ, khiêm nhường của cô Angorian.

Cô Angorian tế nhị nói với Sophie, “Mời bà ngồi.”

Sophie vẫn còn run sau vụ cỗ xe không ngựa đó. Cô vui sướng ngồi bệch xuống một trong hai cái ghế. Nó không được thỏai mái lắm. Phòng của cô Angorian không được thiết kế làm chỗ nghỉ ngơi mà thành nơi nghiên cứu. Dù nhiều đồ vật trong phòng rất kỳ lạ, Sophie hiểu được những cuốn sách đầy trên tường, và hàng đống giấy trên bàn, và hộp hồ sơ xếp trên sàn. Cô ngồi nhìn Michael đang bẽn lẽn ngó mọi thứ và Howl bắt đầu mở màn.

“Làm sao mà cô biết tôi là ai?” Howl duyên dáng hỏi.

“Anh đã gây ra rất nhiều lời đồn trong thành phố này,” cô Angorian đáp, bận rộn tìm kiếm sấp giấy trên bàn.

“Và những người nhiều chuyện đó nói gì với cô?” Howl hỏi. Anh uể oải dựa trên góc bàn và cố thu hút ánh mắt cô Angorian.

“Một, là anh đến và đi rất bất ngờ,” cô Angorian đáp.

“Còn gì nữa?” Howl dõi theo từng cử động của cô Angorian với một cái nhìn mà Sophie biết cơ hội duy nhất còn lại cho Lettie là cô giáo cũng yêu Howl ngay tắp lự.

Nhưng Angorian không phải là loại con gái đó. Cô nói, “Còn nhiều điều nữa, không có câu nào khen anh hết,” và liếc nhìn Michael làm cậu đỏ mặt, và rồi nhìn Sophie như thể nói những điều đó không thích hợp cho họ nghe. Cô giáo cầm tờ giấy ố vàng đưa cho Howl. “Là tờ này,” cô nói nghiêm khắc. “Anh biết đó là gì không?”

“Dĩ nhiên,” Howl đáp.

“Vậy làm ơn nói tôi biết,” cô Angorian nói.

Howl cầm tờ giấy. Có một chút giành giựt khi anh tiện thể cố nắm tay cô Angorian. Cô Angorian thắng cuộc và giấu tay mình sau lưng. Howl nở nụ cười làm tan chảy cả đá và truyền tờ giấy cho Michael. “Cậu nói đi,” anh nói.

Khuông mặt đỏ ửng của Michael bừng sáng khi vừa nhìn thấy nó. “Đó là câu thần chú! Oh, em có thể làm được cái này… để phóng lớn có phải không?”

“Tôi cũng nghĩ vậy,” cô Angorian nói vẻ buộc tội. “Tôi muốn biết anh làm gì với cái đó.”

“Cô Angorian,” Howl đáp, “nếu cô đã nghe những lời đồn đãi về tôi, cô hẳn biết là tôi viết luận án tiến sĩ của tôi về bùa mê và thần chú. Cô nhìn như thể là nghi tôi làm ma thuật vậy! Tôi xin khẳng định là tôi chưa từng làm thần chú như thế.” Sophie không thể không khì mũi một cái trước lời nói dối rành rành đó. “Tôi xin thề trên tim tôi,” Howl thêm, không quên liếc Sophie một cái sắc như dao, “câu thần chú này để nghiên cứu mà thôi. Rất cổ và hiếm có. Đó là tại sao tôi muốn lấy nó lại.”

“Well, anh đã lấy lại rồi đó,” Angorian nhanh chóng nói. “Trước khi về, anh có thể trả lại bài tập kia được không? Photocopies rất tốn tiền.”

Howl sẵn sàng đưa ra tờ giấy nâu láng và cố tình giữ nó khỏi tầm với. “Bài thơ này,” anh nói. “Nó làm tôi thắc mắc. Ngốc thật đó! – nhưng tôi không thể nhớ hết phần còn lại của nó. Của Walter Raleigh, phải không?”

Cô Angorian liếc anh coi thường. “Dĩ nhiên không. Bài đó của John Donne và rất nổi tiếng. Tôi có một cuốn sách ở đây, nếu anh muốn tra lại.”

“Làm ơn,” Howl nói, và từ cách mà mắt anh dõi theo cô Angorian khi cô bước đến bức tường đầy sách, Sophie nhận ra đây là lý do thật sự mà Howl đến vùng đất lạ này. Nhưng Howl cũng không ngại một đá ném hai chim. “Cô Angorian,” anh van vỉ, mắt dán chặt vào thân hình cô khi cô với tay lấy cuốn sách, “cô có thể cho tôi cơ hội được mời cô đi ăn tối nay không?”

Cô Angorian lập tức quay lại với cuốn sách lớn trong tay, và có vẻ nghiêm khắc hơn bao giờ. “Tôi sẽ không,” cô nói. “Anh Jenkins, tôi không biết anh đã nghe những gì về tôi, nhưng anh hẳn nghe là tôi vẫn còn đính hôn với Ben Sullivan…”

“Chưa từng nghe tên đó,” Howl đáp.

“Hôn phu của tôi,” cô Angorian trả lời. “Anh ấy mất tích vài năm trước. Anh có muốn tôi đọc bài thơ cho anh không?”

“Xin làm ơn,” Howl nói, không có vẻ gì hối lỗi. “Cô có giọng rất hay.”

“Vậy thì tôi đọc đoạn thứ hai,” cô Angorian nói, “vì anh đã có đoạn thứ nhất trong tay rồi.” Cô đọc rất hay, không chỉ biểu cảm, nhưng còn làm cho đoạn hai vần với đoạn một, mà theo ý của Sophie thì không hiểu gì cả:

“Nếu mắt anh bẩm sinh k lạ,
Thấy những
điều vô hình vô tướng,
Trải qua mười ngàn ngày
đêm
Đến khi tuổi già điểm trắng tóc.
Khi trở về, xin nói với tôi
Những
điều k diệu đã qua,
Và thề
Không
đâu
Có cô gái xinh
đẹp một lòng.

Nếu anh…”

Gương mặt Howl trở nên trắng bệch. Sophie có thể nhìn thấy mồ hôi rơi lộp độp trên trán anh. “Cám ơn,” anh nói. “Xin ngừng. Tôi sẽ không làm phiền cô đọc nữa. Ngay cả cô gái tốt cũng không thật lòng trong vế cuối, đúng không? Tôi nhớ lại rồi. Ngốc thật. Tất nhiên là John Donne.” Cô Angorian hạ quyển sách xuống và ngó anh. Anh miễn cưỡng nở nụ cười. “Chúng tôi phải đi thôi. Cô có chắc không đổi ý kiến về bữa tối chứ?”

“Không,” cô Angorian đáp. “Anh có khỏe không, anh Jenkins?”

“Rất khỏe,” Howl vừa nói vừa xua Michael và Sophie xuống cầu thang và vào trong cái xe không ngựa kinh khủng đó. Những kẻ quan sát vô hình trong các căn nhà lân cận chắc phải nghĩ cô Angorian đã cầm dao đuổi ba người, dựa vào tướng đi hấp tấp của Howl khi lùa mọi người vào xe và chạy vù đi.

“Chuyện gì xảy ra vậy?” Michael hỏi khi chiếc xe chạy lồng lộn lên đồi trở lại và Sophie bấu chặt lấy ghế kinh hoàng. Howl giả tảng không nghe. Nên Michael chờ cho đến khi Howl khóa xe vào trong nhà kho và hỏi lần nữa.

“Oh, không,” Howl thoải mái trả lời, vừa dẫn đường trở lại căn nhà màu vàng tên là RIVENDELL. “Bà Phù Thủy vùng Hoang Phế đã bắt được tôi với thần chú của bả, vậy thôi. Chuyện phải xảy ra sớm hay muộn.” Anh dường như đang tính toán hay cộng trừ trong đầu khi anh mở cổng vườn. “Mười ngàn,” Sophie nghe anh lẩm bẩm. “Vậy là đến ngày Hạ Chí.”

“Cái gì xảy ra vào ngày Hạ Chí?” Sophie hỏi.

“Đó là khi tôi đúng mười ngàn ngày tuổi,” Howl đáp, mở cánh cổng vào vườn RIVENDELL, “là ngày tôi phải trở về với bà Phù Thủy vùng Hoang Phế.” Sophie và Michael đứng chựng lại trên con đường mòn, ngó sững vào lưng áo Howl, nơi thêu những chữ WELSH RUGBY bí ẩn. “Nếu tôi tránh xa khỏi ngư nhân,” họ nghe anh lẩm bẩm, “và không đụng rễ ớt mã…”

Michael gọi với, “Chúng ta có cần trở vào ngôi nhà đó không?” và Sophie kêu, “Bà Phù Thủy sẽ làm gì?”

“Tôi không dám nghĩ tới,” Howl nói. “Cậu không cần phải vào trở lại, Michael.”

Anh mở cánh cửa kính dợn sóng. Bên trong là căn phòng quen thuộc của lâu đài. Ngọn lửa ngái ngủ của Calcifer đang sơn tường màu xanh nhạt trong ánh nắng ban chiều. Howl quấn tay áo dài lại và đưa cho Calcifer một khúc củi.

“Bà ta đã đuổi kịp, mặt xanh,” anh nói.

“Tớ biết,” Calcifer đáp. “Tớ đã cảm giác được.”

***
Nguyên bài thơ của John Donne

Go And Catch A Falling Star

Go and catch a falling star,
Get with child a mandrake root,
Tell me where all past years are,
Or who cleft the devil’s foot,
Teach me to hear mermaids singing,
Or to keep off envy’s stinging,
And find
What wind
Serves to advance an honest mind.

If thou be’st born to strange sights,
Things invisible to see,
Ride ten thousand days and nights,
Till age snow white hairs on thee,
Thou, when thou return’st, wilt tell me,
All strange wonders that befell thee,
And swear,
No where
Lives a woman true, and fair.

If thou find’st one, let me know,
Such a pilgrimage were sweet;
Yet do not, I would not go,
Though at next door we might meet;
Though she were true, when you met her,
And last, till you write your letter,
Yet she
Will be
False, ere I come, to two, or three.

Chương 12: trong đó Sophie trở thành bà mẹ già của Howl

Sophie không còn thấy việc làm ô danh Howl với nhà vua có tác dụng gì nữa, vì bây giờ bà phù thủy đã bắt kịp được anh. Nhưng Howl nói việc này còn quan trọng hơn lúc nào hết. “Tôi sẽ cần hết sức lực để chạy trốn bà phù thủy,” anh nói, “không thể để cho nhà vua rượt theo tôi nữa.”

Vì vậy, vào buổi trưa ngày hôm sau, Sophie mặc bộ quần áo mới và ngồi với vẻ xinh tươi, hơi cứng nhắc một chút, đợi Michael chuẩn bị và Howl ra khỏi phòng tắm. Trong khi chờ đợi, cô kể cho Calcifer nghe về cái đất nước kì lạ nơi gia đình Howl sống. Kể chuyện làm cô không còn nghĩ đến Đức Vua.

Calcifer rất hứng thú. “Tôi đã biết anh ta từ nơi xa lạ đến,” cậu nói. “Nhưng chỗ này dường như là một thế giới khác. Bà ta thật khôn ngoan, gởi thần chú từ nơi đó đến đây. Rất là khôn ngoan. Tôi thật ngưỡng mộ phép thuật đó, sử dụng một vật có sẵn và biến nó thành lời nguyền. Tôi đã nghi ngờ khi bà và Michael đọc nó hôm nọ rồi. Thằng ngốc Howl đã tiết lộ cho bả quá nhiều về bản thân.”

Sophie nhìn chằm chằm vào khuôn mặt xanh biếc của Calcifer. Cô không ngạc nhiên thấy Calcifer ngưỡng mộ câu thần chú, hay nghe cậu ta gọi Howl là thằng ngốc. Cậu hỏa yêu luôn xúc phạm Howl. Nhưng cô không hiểu được là Calcifer có thật sự ghét Howl hay không. Calcifer lúc nào cũng trông hung ác nên khó mà nói được.

Đôi mắt cam của Calcifer nhìn Sophie. “Tôi cũng sợ nữa,” cậu ta nói. “Tôi sẽ phải chịu chung số phận với Howl nếu bà Phù Thủy bắt được. Bà mà không hủy được hợp đồng trước khi đó, tôi sẽ không thể giúp bà được gì hết.”

Trước khi Sophie hỏi thêm nữa, Howl bước khỏi phòng tắm trông hết sức chỉn chu, mùi hương hoa hồng bay khắp phòng và hét lên kêu Michael. Michael chạy vội vàng xuống cầu thang với bộ cánh nhung mới. Sophie đứng dậy và cầm lấy cây gậy của cô. Đã đến giờ khởi hành.

“Bà thật là đẹp và quý phái!” Michael khen.

“Cũng không làm cho tôi mất mặt,” Howl nói, “trừ cái cây gậy cũ kỹ xấu xí đó.”

“Có nhiều người,” Sophie đáp, “chỉ biết nghĩ đến mình. Cây gậy này đi với tôi. Tôi cần nó để ủng hộ tinh thần.”

Howl nhìn lên trần nhà, nhưng không nói gì thêm.

Ba người trong bộ dáng sang trọng bước vào những con đường của Kingsbury. Sophie dĩ nhiên quay lại để xem tòa lâu đài trông thế nào ở đây. Cô nhìn thấy một cánh cổng cao lớn, cong vút bao quanh cánh cửa đen nhỏ. Phần còn lại của lâu đài như là một bức tường dài nối liền giữa hai biệt thự đá.

“Trước khi bà hỏi,” Howl đáp, “nó thực tế chỉ là cái chuồng ngựa bị bỏ hoang. Lối này.”

Họ đi qua nhiều con đường, cũng đẹp y như những người đang đi bộ vậy. Không có nhiều nguời ở bên ngoài. Kingsbury ở tuốt dưới miền nam và hôm ấy là một ngày nắng nóng hầm hầm. Lề đường như bốc khói. Sophie khám phá ra một điều bất lợi về tuổi già: ta cảm thấy kỳ lạ trong mùa nóng. Những tòa biệt thự mờ mờ ảo ảo dưới mắt cô. Cô rất khó chịu, bởi vì cô muốn ngắm cảnh, nhưng chỉ tòan thấy dáng mờ mờ của mái vòm vàng và nhà cao tầng.

“À quên nữa,” Howl nói, “bà Pentstemmon sẽ kêu bà là bà Pendragon. Pendragon là tên mà tôi dùng ở đây.”

“Để làm quái gì?” Sophie hỏi.

“Để ngụy trang,” Howl đáp. “Pendragon là một cái tên đẹp, đẹp hơn là Jenkins.”

“Tôi thích tên thường hơn,” Sophie nói khi họ quẹo vào trong một con đường hẻm mát mẻ.

“Không phải ai cũng làm Mad Hatters được” Howl nói.

Dinh thự của bà Pentstemmon rất tráng lệ và nguy nga, nằm gần cuối con hẻm. Hai bên nhà trồng hai chậu cây cam trước cánh cổng xa hoa. Cánh cổng này được mở bởi một lão quản gia già bận áo nhung đen, ông dẫn mọi người vào trong đại sảnh mát lạnh được lát đá hoa cương màu trắng đen xen kẽ như bàn cờ. Michael kín đáo lau mồ hôi trên mặt. Howl, người lúc nào cũng ra vẻ phách lối, đối xử với ông quản gia như là một người bạn già và cười đùa trêu chọc ổng.

Người quản gia đưa bọn họ cho một cậu tiểu đồng bận áo nhung đỏ. Khi cậu bé dẫn họ một cách đầy trịnh trong lễ nghi lên cầu thang sang trọng, Sophie bắt đầu thấy tại sao nơi đây là chỗ luyện tập tốt trước khi gặp Đức Vua. Cậu dẫn họ vào trong một phòng khách, cô chắc chắn là ngay cả cung điện cũng không được huy hoàng như thế này. Mọi thứ trong phòng đều xanh biếc, vàng óng, và trắng tinh, vừa nhỏ, vừa xinh. Trong đó bà Penstemmon là đẹp nhất. Dáng bà cao gầy, và bà ngồi thẳng lưng trong cái ghế thêu vàng xanh, tay đeo găng vàng, chống vào một cây gậy mạ vàng ở đầu. Trang phục của bà bằng lụa vàng, may theo kiểu cứng ngắc thời xưa, kết thúc là cái mũ trùm đầu trông không khác gì vương miện, cột bằng một cái nơ vàng óng dưới khuông mặt diều hâu hốc hác. Đó là một quý bà đẹp nhất và đáng sợ nhất mà Sophie từng thấy.

“Ah, Howell thân mến,” bà nói, găng tay vàng giơ ra.

Howl cúi xuống và hôn găng tay, một việc làm hiển nhiên được trông đợi. Anh làm việc đó rất trang nhã, nhưng cử chỉ đó bị hỏng nếu nhìn từ phía sau vì bàn tay kia của Howl vẫy vẫy như đuổi ruồi để ra dấu vói Michael, hơi chậm hiểu một chút, nhận ra rằng mình phải đứng gần cửa cạnh cậu tiểu đồng. Cậu bé nhanh chóng lùi lại, vui mừng vì đã chạy xa khỏi bà Pentstemmon.

“Pentstemmon phu nhân, xin phép được giới thiệu mẹ con,” Howl nói, giơ tay vẫy Sophie. Vì Sophie có cảm giác y chang như Michael, Howl phải vẫy vẫy tay về phía cô luôn.

“Hân hạnh. Vui mừng,” phu nhân Pentstemmon nói, và giơ găng tay vàng ra cho Sophie. Sophie không chắc nếu bà Pentstemmon muốn cô hôn găng tay hay sao, nhưng cô không thể bắt mình làm vậy được. Thay vì thế, cô đặt tay mình vào trong chiếc găng đó. Bàn tay ở dưới rất lạnh lẽo và già nua. Sau khi cảm thấy thế, Sophie ngạc nhiên khi thấy bà Pentstemmon vẫn còn sống. “Thứ lỗi tôi không thể đứng dậy, thưa bà Pendragon,” Pentstemmon nói. “Sức khỏe của tôi thật không tốt. Buộc tôi phải ngưng dạy học từ ba năm trước. Xin mời ngồi, cả hai người.”

Cố gắng giữ mình không bị run lên vì sợ, Sophie trịnh trọng ngồi trong cái ghế thêu đối diện bà Pentstemmon, tay chống vào cây gậy trong tư thế mà cô cũng hi vọng là cũng tao nhã như thế. Howl xoạc cẳng quí phái ngồi trên ghế kế bên. Anh có vẻ tự nhiên như ở nhà, và Sophie thấy ghen tị.

“Tôi tám mươi sáu,” bà Pentstemmon tuyên bố. “Còn bà bao nhiêu tuổi, phu nhân Pendragon?”

“Chín chục,” Sophie đáp, con số cao nhất hiện trong đầu cô.

“Vậy sao?” bà Pentstemmon nói với một chút xíu ghen tị. “Bà thật may mắn vẫn còn rất nhanh nhẹn.”

“Oh, đúng đó, mẹ thật là nhanh nhẹn tuyệt vời,” Howl đồng ý, “nhiều khi còn không có cách nào ngăn lại được.”

Bà Pentstemmon nhìn anh theo một cách cho Sophie biết rằng bà cũng là một giáo sư nghiêm khắc như cô Angorian. “Tôi đang nói chuyện với mẹ cậu,” bà nói. “Tôi dám nói là bà cũng tự hào về cậu như là tôi. Chúng tôi là hai bà già đã có công tạo dựng nên cậu. Cậu, có thể nói, là tác phẩm hợp tác của hai chúng tôi.”

“Thầy không nghĩ là con có dự phần tạo nên con hay sao?” Howl hỏi. “Bỏ vô một vài thứ của riêng con?”

“Một vài, và toàn những thứ tôi không thích chút nào,” bà Pentstemmon phu nhân trả lời. “Nhưng cậu sẽ không thích ngồi ở đây và nghe hai bà già nói chuyện về cậu. Cậu sẽ đi ngồi bên ngoài sân thượng, đem theo cả tiểu đồng của cậu và Hunch sẽ mang nước lạnh cho hai người. Đi đi nào.”

Nếu Sophie không phải là quá kinh hãi, cô có thể đã phá ra cười trước biểu tình trên mặt của Howl. Anh tất nhiên đã không dự tính việc này sẽ xảy ra. Nhưng anh đứng dậy, chỉ nhún vai nhẹ, làm bộ mặt cảnh cáo với Sophie, và xua Michael ra khỏi căn phòng đằng trước. Bà Pentstemmon quay lưng thẳng tắp nhìn hai người họ. Rồi bà gật đầu với cậu tiểu đồng, ra hiệu cho cậu cũng rời đi luôn. Sau đó, bà Pentstemmon quay mặt lại đối diện Sophie, và Sophie càng thấy run hơn bao giờ.

“Tôi thích cậu ta với tóc đen,” bà Pentstemmon tuyên bố. “Cậu trai đó đang đi về hướng xấu.”

“Ai? Michael?” Sophie hỏi, hoang mang.

“Không phải cậu gia nhân,” Pentstemmon nói. “Tôi không nghĩ cậu ta đủ khôn ngoan để làm tôi phải lo lắng. Tôi đang nói về Howell, bà Pendragon.”

“Oh,” Sophie đáp, tự hỏi tại sao bà Pentstemmon chỉ nói “đang.” Howl chắc chắn đã đến nơi xấu xa từ lâu.

“Lấy thí dụ tòan bộ vẻ ngoài của cậu ta,” bà Pentstemmon nhận xét chung chung. “Nhìn bộ quần áo.”

“Howl lúc nào cũng lo lắng về bề ngòai của mình,” Sophie đồng ý, và tự hỏi tại sao cô lại nói giảm nhẹ điều đó.

“Và khi xưa cũng vậy. Tôi cũng quan tâm đến bề ngoài của mình, và tôi không thấy có gì sai về chuyện đó,” bà Pentstemmon nói. “Nhưng tại làm sao cậu tại lại đi ra ngoài với bộ quần áo có ma thuật? Đó là một thần chú tạo sự lôi cuốn mê hoặc, hướng đến các cô gái – làm rất là tốt, tôi thú nhận, và rất khó nhận ra ngay cả dưới con mắt đầy kinh nghiệm của tôi, vì nó được quyện vào trong chỉ – cái thần chú này sẽ biến cậu ta thành gần như hấp dẫn không cưỡng lại được cho các cô gái. Điều này thể hiện một bước tiến vào trong ma thuật, hẳn nó làm bà rất lo lắng, bà Pendragon.”

Sophie khó nhọc nghĩ về bộ quần áo xám đỏ. Cô đã dùng chỉ khâu nó mà không để ý thấy có gì lạ. Nhưng bà Pentstemmon là một chuyên gia về ma thuật, và Sophie chỉ là một chuyên gia về quần áo.

Bà Pentstemmon đặt cả hai găng tay vàng lên đầu gậy và nghiêng thân mình thẳng tắp của bà, để cả hai con mắt chuyên gia và sắc nhọn nhìn thằng vào mắt Sophie. Sophie càng thấy hoảng sợ và bất ổn. “Cả cuộc đời tôi gần sắp hết rồi,” bà Pentstemmon nói. “Tôi cảm thấy chết đang từng bước đến gần.”

“Oh, tôi chắc là không phải vậy,” Sophie nói, cố gắng nói giọng xoa dịu. Thật là khó để nói bất cứ giọng gì với bà Pentstemmon đang ngó chăm chăm như thế.

“Tôi xin quả quyết là nó chính xác như vậy,” bà Pentstemmon nói. “Đó là tại sao tôi rất khao khát được gặp bà, Pendragon phu nhân. Howell, bà biết đó, là học trò cuối cùng và giỏi nhất của tôi. Tôi đã chuẩn bị về hưu khi cậu ta đến với tôi từ một vùng đất xa xôi. Tôi nghĩ tôi đã hoàn tất công việc khi đào tạo Benjamin Sullivan – người bà có lẽ biết dưới tên Pháp sư Suliman, cầu cho cậu được an nghỉ! – và giới thiệu cho cậu ta chức vụ Pháp Sư Hoàng Gia. Thật kỳ lạ, Benjamin cũng đến từ vùng đất của Howell. Rồi Howell đến, và chỉ một cái liếc mắt tôi đã thấy cậu có sức tưởng tượng và tài năng gấp đôi. Dù tôi phải thú nhận là cậu ta có nhiều cá tính không được tốt, tôi biết cậu ta là lực lượng của cái thiện. Thiện, Pendragon phu nhân. Nhưng giờ cậu ta là gì?

“Gì thiệt?” Sphie nói.

“Có chuyện gì đó đã xảy ra cho cậu ta,” bà Pentstemmon nói, vẫn nhìn chăm chú vào Sophie. “Và tôi nhất định tìm ra nguyên nhân trước khi tôi chết.”

“Theo bà nghĩ thì chuyện gì đã xảy ra?” Sophie hỏi vẻ không thoải mái.

“Tôi tin là bà sẽ kể cho tôi nghe,” Mrs. Pentstemmon nói. “Theo tôi thì cậu đã theo con đường của bà Phù Thủy vùng Hoang Phế. Họ đều nói có một thời bà ta không phải ác độc – dù tôi chỉ nghe nói vậy thôi, bởi vì bà ta già hơn cả hai chúng ta và đã dùng ma thuật để giữ lại tuổi trẻ. Howell cũng có tài năng thiên phú như thế. Dường như những người có tài không thể chống lại một chút nguy hiểm của sự khôn ngoan, kết quả là phải sa vào một sai lầm chết người và bắt đầu từ từ đi vào ma đạo. Bà, có thể nào, biết được đó là gì không?”

Tiếng của Calicfer vang trong tai Sophie, nói, “Cái hợp đồng không tốt cho cả hai chúng tớ về lâu dài.” Cô cảm thấy lạnh giá, mặc cho không khí nóng bức ban ngày thổi qua những cửa sổ mở toang của căn phòng đẹp đẽ này. “Vâng,” cô nói. “Howl đã dính vào hợp đồng với một con hỏa yêu.”

Bàn tay của bà Pentstemmon run một chút trên cây gậy. “Đúng là điều đó rồi. Bà phải hủy cái hợp đồng đó, bà Pendragon.”

“Tôi sẽ làm liền nếu như tôi biết cách,” Sophie nói.

“Chắc chắn dự cảm của người mẹ và tài năng phép thuật mạnh mẽ của bà sẽ cho bà biết,” Pentstemmon phu nhân nói. “Tôi đã nhìn kỹ bà, Mrs. Pendragon, mặc dù bà có thể không để ý…”

“Ồ, tôi để ý chứ, thưa bà Pentstemmon,” Sophie nói.

“… và tôi thích tài năng thiên bẩm của bà,” bà Pentstemmon nói. “Đem lại sự sống cho đồ vật, như là cây gậy trong tay bà vậy, rõ ràng là bà đã nói chuyện với nó, đến nỗi nó trở thành vật mà người ta thường gọi là cây gậy thần. Tôi nghĩ bà sẽ không gặp khó khăn khi hủy hợp đồng đâu.”

“Vâng, nhưng tôi cần biết các điều kiện của nó là gì,”Sophie nói. “Có phải Howl nói với bà tôi là phù thủy không, bởi vì nếu …”

“Không có. Không cần phải e ngại. Bà có thể tin vào kinh nghiệm của tôi để biết những việc này,” bà Pentstemmon nói. Rồi, bà nhắm mắt lại, làm Sophie thoải mái hơn. Như là một ánh đèn sáng rực bị tắt đi. “Tôi không biết, và cũng không muốn biết, về cái hợp đồng đó,” bà nói. Cây gậy của bà lung lay lần nữa, như là đang rùng mình. Môi bà mím lại thành một đừờng dài. “Nhưng giờ thì tôi hiểu,” bà nói, “việc gì đã xảy ra cho bà Phù Thủy. Bà ta đã làm hợp đồng với hỏa yêu, và qua nhiều năm tháng, nó đã điều khiển được bà ta. Yêu quái không hiểu được thiện và ác. Nhưng chúng có thể được mua chuộc vào một hợp đồng, nếu có người cho nó một vật có giá trị, một vật chỉ có con người có. Điều đó kéo dài mạng sống của cả người và yêu, và con người lấy được phép thuật của yêu quái để thêm vào sức mạnh của mình.” Bà Pentstemmon lại mở mắt ra. “Đó là tất cả những gì tôi có thể nói về chuyện này,” bà nói, “ngoại trừ việc khuyên bà nên tìm cho ra hoả yêu đã giữ cái gì. Bây giờ tôi xin phép. Tôi phải đi nằm nghỉ một chút.”

Và như ma thuật, có lẽ đúng là thế, cánh cửa mở toang ra và cậu tiểu đồng đi vào để dẫn Sophie ra khỏi căn phòng. Sophie rất vui được đi. Cô chỉ cảm thấy lúng túng xấu hổ ở bên trong. Cô quay nhìn thân hình cứng ngắc, thẳng tắp khi cánh cửa đóng lại và tự hỏi nếu bà Pentstemmon cũng sẽ làm cô cảm thấy như thế này nếu cô thật sự là mẹ của Howl. Sophie nghĩ rằng kết quả cũng như vậy. “Tôi ngả nón cho Howl vì đã chịu được bà làm thầy cho hơn một ngày!” cô thì thầm với chính mình.

“Thưa bà?” cậu tiểu đồng hỏi, nghĩ rằng Sophie đang nói với cậu.

“Tôi nói, đi chầm chậm xuống cầu thang thôi, tôi không theo kịp,” Sophie bảo. Chân cô run run, “Mấy cậu trẻ chạy nhanh quá,” cô nói.
Cậu tiểu đồng dắt cô chầm chậm và chu đáo xuống cầu thang sáng bóng. Nửa đường, Sophie hồi phục lại tinh thần từ cá tính của Mrs. Pentstemmon để nghĩ về vài điều mà Mrs. Pentstemmon đã nói. Bà đã bảo Sophie là một nữ phù thủy. Kỳ lạ thật, Sophie chấp nhận điều này không khó khăn gì hết. Việc này giải thích sự nổi tiếng của nhiều cái nón, cô nghĩ. Nó giải thích Bá tước Gì đó của Jane Farrier. Nó có thể giải thích sự ghen tị của Phù Thủy vùng Hoang Phế. Dường như là Sophie đã luôn biết điều này. Nhưng cô đã nghĩ là thật không đúng để có tài năng ma thuật thiên bẩm, bởi vì cô là con gái lớn trong ba chị em. Tài năng đó phải thuộc về Lettie mới phải.

Rồi cô nghĩ về cái áo xám đỏ và xém rớt xuống cầu thang. Cô là người đã đặt thần chú lên nó. Cô có thể nghe tiếng mình lầm bầm với nó, “Được may để kéo con gái!” cô đã bảo vậy. Và tất nhiên điều đó thành sự thật. Nó đã quyến rũ Lettie ở trong vườn hôm đó. Hôm qua, với một chút ngụy trang, dường như nó tạo ảnh hưởng bí mật lên cô Angorian nữa.
Chết rồi! Sophie nghĩ. Mình đã làm tăng gấp đôi con số trái tim sẽ bị làm vỡ rồi! Phải tìm cách lột bộ áo đó khỏi mình hắn mới được!

Howl, trong bộ áo đó, đang chờ trong đại sảnh trắng đen với Michael. Michael lo lắng huých Howl khi thấy Sophie từ từ đi xuống cầu thang với cậu tiểu đồng. Howl trông rất buồn bã. “Bà trông có vẻ tả tơi quá,” anh nói. “Có lẽ không nên đi gặp nhà vua nữa. Tôi sẽ tự đi và tự làm ô danh mình khi tạ lỗi cho bà. Tôi sẽ nói sự độc ác của tôi đã làm bà bệnh. Nhìn bà có thể thấy điều đó giống sự thật lắm.”

Sophie dĩ nhiên không muốn gặp nhà vua. Nhưng cô nghĩ về chuyện Calcifer đã nói. Nếu Đức Vua truyền lệnh cho Howl đi và trong vùng Hoang Phế và bà Phù Thủy bắt được anh, cơ hội trẻ lại của Sophie cũng tiêu tan luôn.

Cô lắc đầu. “Sau bà Pentstemmon,” cô nói, “Đức Vua của Ingary chỉ là một người bình thường mà thôi.

Chương 13: trong đó Sophie bôi nhọ tên Howl

Sophie lại có cảm giác kỳ quái khi bọn họ đến gần lâu đài. Những mái vòm vàng làm cô choáng ngợp. Đường đến cổng trước là một cầu thang dài rộng lớn, mỗi sáu bước có một chàng lính canh. Những cậu trai trẻ có lẽ gần xỉu trong tiết trời nóng như nung, Sophie nghĩ khi hồng hộc bước lên từng bậc. Trên đầu bậc thang là những cánh cổng hình tròn, sảnh đường, hành lang, phòng này tiếp nối phòng sau. Sophie không đếm nổi nữa. Tại mỗi cánh cổng là một người ăn bận rực rỡ mang găng tay trắng – vẫn còn trắng tinh mặc cho nhiệt độ bên ngoài – hỏi han và dẫn họ đến người tiếp theo trong cái cổng tròn kế.

“Pendragon Phu nhân đến gặp Đức Vua!” tiếng mỗi người vọng lên qua hành lang.

Được nửa đường, Howl được lịch sự tách ra và bảo phải chờ. Michael và Sophie tiếp tục được chuyền từ người này sang người khác. Họ được đưa lên tầng trên, cho những người tùy tùng mặc màu xanh dương rực rỡ thay vì đỏ, và lại bị chuyền tay lần nữa cho đến khi vào trong một phòng chờ đợi lớn hơn trang trí bằng một trăm thanh gỗ có màu khác nhau. Ở đó Michael cũng bị tách ra và bảo phải chờ. Sophie, đến giờ này vẫn không chắc là mình không phải đang trong một giấc mơ lạ thường nào đó, lại được dẫn vào hai cánh cửa khổng lồ, và lần này cô nghe có tiếng vọng lại, “Tâu Bệ hạ, phu nhân Pendragon xin được yết kiến.”

Và đó là Đức Vua, không phải ngồi trên ngai, mà là trong một cái ghế vuông vức chỉ có một chiếc lá vàng nhỏ ở trên, chính giữa căn phòng lớn, ngài bận trang phục còn khiêm tốn hơn những người phục vụ. Ngài ngồi một mình, như một người bình thường. Đúng, ông ngồi với một chân xoạc ra theo kiểu một vì vua, và cũng khá đẹp trai theo kiểu tròn trịa, xinh xắn, nhưng với Sophie, ông dường như quá trẻ và chỉ một chút quá tự hào để làm vua. Cô nghĩ ông ta, với khuôn mặt đó, nên không chắc về mình một chút.

Ông nói, “Well, có chuyện gì mà mẹ của Pháp sư Howl phải tìm gặp tôi?”

Và Sophie đột ngột bị áp đảo bởi sự thật là cô đang đứng nói chuyện với nhà vua. Cứ như, cô choáng váng nghĩ, người đàn ông ngồi đó và cái thứ khổng lồ, quan trọng tên gọi vương quyền là hai thứ riêng lẻ chỉ ngẫu nhiên cùng ngồi một cái ghế. Và cô thấy mình đã quên sạch từng chi tiết cẩn thận, tinh tế mà Howl đã dặn cô phải nói. Nhưng cô phải nói cái gì đó.

“Thằng bé gởi tôi đến để nói với ngài rằng nó sẽ không đi tìm em trai ngài,” cô nói. “Tâu bệ hạ.”

Cô ngó chăm chăm nhà vua. Nhà vua ngó lại. Thật là một thảm họa.

“Bà có chắc không?” Nhà vua hỏi. “Pháp sư dường như đã rất vui vẻ chấp nhận khi tôi nói chuyện với y.”

Điều duy nhất còn sót lại trong đầu Sophie là cô đến đây để bôi nhọ tên Howl, nên cô nói, “Nó nói xạo về việc đó. Nó không muốn làm ngài khó chịu. Thằng bé luôn luồn lách như lươn, nếu ngài hiểu ý tôi, tâu bệ hạ.”

“Và y hi vọng sẽ luồn khỏi việc tìm em trai Justin của tôi,” Nhà vua đáp. “Tôi hiểu rồi. Sao bà không ngồi xuống, vì tôi thấy bà không được trẻ, và kể tôi nghe lý do của Pháp sư?”

Có một cái ghế đơn sơ khác nằm khá xa Nhà Vưa. Sophie lạch bạch ngồi xuống, hai tay chống lên cây gậy như kiểu của bà Pentstemmon, hi vọng cái dáng đó sẽ làm cô thấy can đảm hơn. Nhưng tâm trí cô vẫn bao trùm một màu trắng toát vì sợ hãi. Tất cả cô có thể nghĩ đến để nói là, “Chỉ có một kẻ hèn nhát mới gởi bà mẹ già đến năn nỉ giùm. Ngài có thể thấy nó là như vậy đó, tâu bệ hạ.”

“Thật là một cách kỳ lạ,” Nhà Vua nghiêm trọng nói. “Nhưng tôi đã nói với Pháp sư là tôi sẽ trả công xứng đáng nếu ngài đồng ý.”

“Ồ, thằng bé không quan tâm đến tiền bạc,” Sophie nói. “Nhưng nó sợ Phù Thủy vùng Hoang Phế đến chết cứng, ngài thấy đó. Bà ta đã nguyền rủa và vừa mới bắt kịp thằng bé.”

“Vậy thì pháp sư có mọi lý do để bị sợ,” Nhà vua nói với chút xíu rùng mình. “Nhưng hãy kể cho tôi nghe thêm về Pháp sư.”

Thêm nữa về Howl? Sophie tuyệt vọng nghĩ. Tôi phải bôi nhọ tên hắn! Đầu óc cô trống rỗng đến nỗi trong một giây dường như với cô Howl không có khuyết điểm nào cả. Ngốc thật! “Well, thằng bé hay thay đổi, cẩu thả, ích kỷ, và hay bị kích động,” cô nói. “Nhiều khi tôi nghĩ nó không lo đến người khác miễn là nó không sao – nhưng rồi tôi nhận ra rằng nó rất quan tâm tới bạn bè. Rồi tôi nghĩ nó chỉ tốt khi nào có lợi cho nó – chỉ sau đó tôi nhận ra nó không lấy tiền người nghèo. Tôi không biết, Bệ hạ. Nó rắc rối lắm.”

“Tôi có ấn tượng,” Đức Vua nói, “là Howl là một người vô đạo đức, láu cá với cái lưỡi lém lỉnh và một đầu óc khôn ngoan. Bà đồng ý không?”

“Ngài nói thật chí lý!” Sophie thật lòng reo lên. “Nhưng ngài bỏ sót tính phù phiếm của nó và …” Cô nhìn nhà vua đầy nghi ngờ. Ngài dường như quá sẵn sàng giúp cô làm ô danh Howl.

Nhà Vua đang mỉm cười. Một nụ cười hơi không chắc chắn đi với con người thật của ngài, hơn là với một nhà vua. “Cám ơn, bà Pendragon,” ông nói. “Sự thẳng thắn của bà đã cất đi gánh nặng của tôi. Pháp sư Howl đã đồng ý tìm em tôi thật dễ dàng làm tôi nghĩ rằng tôi đã chọn sai người. Tôi e rằng y là kẻ thích khoe khoang, hay sẽ làm tất cả vì tiền. Nhưng bà đã cho tôi thấy y chính là người mà tôi cần.”

“Oh, quỷ tha ma bắt!” Sophie kêu lên. “Nó kêu tôi đến để nói với ngài là nó không phải thế!”

“Và bà đã làm vậy.” Nhà vua nhích ghế lại gần Sophie. “Cho phép tôi nói thẳng,” ngài nói. “Bà Pendragon, tôi rất cần em tôi trở về. Không phải chỉ vì tôi thương nó và hối hận về vụ tranh cãi trước kia. Không phải chỉ vì những người nào đó đang xì xầm với nhau là tôi chính tay đuổi nó đi – việc mà ai biết cả hai chúng tôi đều biết là vô lý. Không, thưa bà Pendragon. Sự thật là, em trai Justin của tôi là một đại tướng tài giỏi và, với High Norland và Strangia sắp sửa tuyên bố chiến tranh với nước ta, ta không thể không có nó. Bà phù thủy cũng đe dọa cả tôi nữa. Bây giờ mọi báo cáo đều đồng ý là Justin đã thật sự đến vùng Hoang Phế, tôi chắc chắn là mụ phù thủy đã cố ý không cho em tôi ở đây khi tôi cần nó nhất Tôi e rằng mụ ta đã bắt cóc Pháp sư Suliman để bẫy Justin. Vì thế mà tôi cần một pháp sư thông minh và vô tâm để đưa nó về.”

“Howl sẽ chỉ chạy trốn mà thôi,” Sophie cảnh cáo nhà vua.

“Không,” nhà vua đáp. “Tôi không nghĩ y sẽ làm thế. Sự thật là y đã gởi bà đến đây chứng minh điều đó. Y làm thế để cho tôi thấy y là kẻ quá hèn nhát để quan tâm đến tôi nghĩ gì về y, đúng không, thưa bà Pendragon?”

Sophie gật đầu. Cô ước gì đã nhớ hết tất cả những đìêu tinh tế mà Howl đã dặn. Nhà vua sẽ hiểu chúng ngay khi cả cô chẳng hiểu gì.

“Không phải hành động của một kẻ vô tích sự,” Đức Vua phán. “Nhưng không ai làm vậy trừ khi là bước đường cùng, cho tôi thấy là Pháp sư Howl sẽ làm như tôi muốn nếu tôi cho y thấy rõ ràng là bước cuối cùng của y đã thất bại.”

“Tôi nghĩ ngài – er – đã tự nhận định từ những điều không có đó, thưa Bệ hạ,” Sophie đáp.

“Tôi không nghĩ vậy,” Đức Vua mỉm cười. Những đường nét mờ nhạt trên khuôn mặt ngài cứng lại kiên quyết. Ngài chắc chắn là ngài đúng.

“Bà Pendragon, truyền lời ta cho Pháp sư Howl, là ta chỉ định y làm Pháp sư Hoàng gia ngay từ bây giờ, với mệnh lệnh phải tìm cho ra Vương gia Justin, sống hay là chết, trước khi năm nay kết thúc. Bà có thể đi ngay bây giờ.”

Ngài đưa tay ra cho Sophie, như là bà Pentstemmon, nhưng kém quý phái hơn một chút. Sophie lật đật đứng dậy, băn khoăn không biết mình có nên hôn bàn tay này hay không. Nhưng vì cô cảm thấy như muốn nâng cây gậy lên và khõ vào đầu nhà vua, cô nắm tay ngài và khẽ cúi đầu chào. Dường như cô đã làm đúng. Đức vua mỉm cười thân thiện với cô khi cô lạch bạch lùi ra cánh cửa đôi.

“Ồ, khốn kiếp!” cô thì thầm với chính mình. Đó hoàn tòan không phải là điều mà Howl mong muốn. Bây giờ cậu ta sẽ phải dời lâu đài đi xa cả ngàn dặm khỏi nơi đây. Lettie, Martha và cả Michael đều sẽ đau khổ, và nhất định có một dòng thác chất nhờn màu xanh đang chờ đợi ở nhà. “Đúng là số phận của người chị cả,” cô thì thầm khi đẩy cánh cửa nặng chịch mở ra. “Không thể nào khác được!”

Có một trục trặc khác nữa. Trong sự khó chịu và chán nản, Sophie đã đi nhầm qua cánh cửa. Căn phòng này có đầy gương treo xung quanh. Trong đó phản chiếu hình ảnh bé nhỏ, lưng cong của cô trong cái váy xám đẹp đẽ, và một số lượng lớn những người trong bộ quan phục màu xanh dương, những người bận trang phục đẹp như là Howl, nhưng không ai là Michael. Michael dĩ nhiên đang chờ ở trong căn phòng trang trí đầy những miếng gỗ.

“Oh, mắc dịch!” Sophie thốt.

Một trong những triều thần đã vội vàng đến gần cô và cúi đầu chào. “Pháp sư Phu nhân! Cháu có thể giúp bà được chăng?”

Đó là một cậu trai trẻ tuổi, nhỏ nhắn, mắt đo đỏ. Sophie ngó chằm chằm cậu ta. “Oh, chúa ơi!” cô nói. “Vậy là câu thần chú thành công.”

“Thưa đúng thế,” cậu ta đáp với vẻ hơi mắc cỡ. “Cháu đã tước vũ khí của hắn ta khi hắn ắt xì và bây giờ hắn đang kiện cháu. Nhưng điều quan trọng nhất…” khuôn mặt cậu mỉm cười rạng rỡ, “… là Jane yêu quí đã trở về bên cháu! Cháu có thể làm gì được cho bà? Cháu cảm thấy có trách nhiệm cho hạnh phúc của bà.”

“Tôi không chắc là phải lo ngược lại không,” Sophie đáp. “Cậu không phải là bá tước Catterack chứ?”

“Hân hạnh được phục vụ phu nhân,” vị triều thần cúi chào.

Jane Farrier phải cao hơn cậu ta ít nhất một tấc! Sophie nghĩ. Chắc chắn là lỗi của ta. “Vâng, cậu có thể giúp tôi,” Sophie nói, và giải thích về Michael.

Bá tước Catterack bảo đảm với cô Michael sẽ được gọi đến cổng đại sảnh để gặp cô. Không có gì rắc rối cả. Cậu ta dẫn Sophie đến cho một người hầu mang găng tay, rồi đến người khác, như là lúc trước, và dần dần bước xuống những bậc thang do các anh lính canh gác.

Michael không có ở đó. Và cả Howl cũng thế, nhưng đó là một sự thoải mái nho nhỏ cho Sophie. Cô nghĩ cô có thể đoán được mọi việc sẽ trở nên như vậy! Vị bá tước Catterack rõ ràng là một người làm việc gì cũng trật, và cô cũng chính là người như vậy. Có lẽ do may mắn mà cô tìm được đường ra ngoài. Hiện giờ cô mệt mỏi, nóng nực, và chán nản đến mức cô quyết định không chờ cho Michael nữa. Cô muốn ngồi xuống trong chiếc ghế cạnh lò sưởi và kể cho Calcifer nghe cô đã tạo ra rắc rối thế nào.

Sophie lạch bạch bước xuống bậc thang lộng lẫy. Cô tập tễnh xuống một đại lộ huy hoàng. Cô cà nhắc qua những con đường, với hàng tháp, mái nhà, mái vòm cuộn tròn xoay đến chóng mặt. Và cô nhận ra sự việc tồi tệ hơn cô tưởng. Cô bị lạc. Cô tuyệt đối không biết cái chuồng ngựa giả dạng của cổng lâu đài ở đâu. Cô quẹo lại một đường phố khác, nhưng cũng không nhận ra gì hết. Bây giờ ngay cả đường về cung điện cô cũng không biết. Cô thử hỏi người đi đường. Hầu hết đều nóng và mệt như cô. “Pháp sư Pendragon?” họ nói. “Ai thế?”

Sophie lạch bạch đi trong vô vọng. Cô gần bỏ cuộc và chịu ngồi trước thềm nhà người ta qua đêm, khi cô đi ngang qua cuối con hẻm nhỏ gần nhà của Pentstemmon phu nhân. Ah! cô nghĩ. Ta có thể đi hỏi ông quản gia. Ông ta và Howl là bạn thân thiết, ổng phải biết nhà của Howl ở đâu. Nên cô quẹo vào con hẻm.

Bà Phù Thủy vùng Hoang Phế đang đi chiều ngược lại về phía cô.

Rất khó nói bằng cách nào mà Sophie nhận ra đó là bà phù thủy. Gương mặt bà ta đã đổi hác. Mái tóc, thay vì màu hạt dẻ cuộn từng lọn, lại là một khối màu đỏ dợn sóng, dài gần đến thắt lưng, và bà ta đang mặc bộ váy màu nâu đỏ lẫn màu vàng. Trông rất đẹp và đáng yêu. Sophie nhận ra bà ta ngay lập tức. Cô gần như dừng chân lại, nhưng không hẳn.

Không có lý do gì để bà ấy nhận ra mình, Sophie nghĩ. Mình chỉ là một trong hàng trăm người bị bà ta nguyền rủa. Và Sophie can đảm tiến đến trước, giậm cây gậy của cô lên sỏi và tự nhắc với mình, nếu gặp rắc rối, là Pentstemmmon phu nhân đã nói cây gậy này đã trở thành một vật có phép thuật.

Lại là một sai lầm nữa. Bà Phù thủy từ lề đường lướt đến, mỉm cười, tay xoay xoay cái dù, theo sau lưng là hai cậu bé tiểu đồng mặt rầu rĩ trong bộ áo nhung màu cam. Khi bà ta bước song song với Sophie, bà ngừng chân, và mùi thơm bay vào mũi Sophie. “Ồ, là tiểu thư Hatter đây mà!” Phù thủy cười lớn. “Tôi không bao giờ quên mặt ai, nhất là khi tôi đã làm ra nó! Bà làm gì ở đây, diện áo thật đẹp? Nếu bà nghĩ đến việc đến thăm phu nhân Pentstemmon, bà có thể quên đi. Mụ già đó đã chết rồi.”

“Chết?” Sophie nói. Cô chợt có một ý tưởng ngu ngốc để thêm vào, Nhưng bà ta còn sống một giờ trước! Và cô tự dừng mình lại, bởi vì chết là như thế đó: người ta còn sống cho đến khi ta chết.

“Đúng. Chết,” phù thủy đáp. “Bà ta không cho tôi biết người mà tôi muốn tìm ở đâu. Bả nói, ‘Bước qua xác của tôi!’ và tôi làm như bả nói.”

Bà ta đang tìm Howl! Sophie nghĩ. Mình phải làm gì bây giờ? Nếu không phải là cô đang rất nóng nực và mệt mỏi, Sophie sẽ phải rất sợ hãi để mà nghĩ nữa kìa. Bởi vì một bà phù thủy có thể hại chết phu nhân Pentstemmon sẽ không gặp rắc rối gì để ra tay với Sophie, có gậy hay không gậy. Và nếu bà ta nghi ngờ một chút nào là Sophie biết chỗ của Howl, đó có thể là ngày tàn của Sophie. Có lẽ việc Sophie không nhớ cổng vào lâu đài là việc tốt.

“Tôi không biết bà vừa mới giết ai,” cô nói, “nhưng mà bà là một kẻ giết người ghê gớm.”

Nhưng bà phù thủy không có vẻ gì nghi ngờ cả. Bà nói, “Nhưng tôi tưởng cô nói cô sẽ đi gặp bà Pentstemmon?”

“Không,” Sophie đáp. “Chính bà mới là người nói thế. Tôi không cần phải biết bà ta để gọi bà là độc ác vì đã giết người.”

“Vậy thì cô đang đi đâu?” bà phù thủy hỏi.

Sophie muốn bảo bà phù thủy không liên quan tới bà. Nhưng nói vậy chỉ gây thêm rắc rối. Thế nên cô nói điều duy nhất mà cô nghĩ tới. “Tôi đang đi gặp Đức Vua.”

Bà phù thủy cười hoài nghi. “Nhưng Đức Vua có chịu gặp bà không?”

“Tất nhiên rồi,” Sophie la lên, rung lên vì sợ hãi và giận dữ. “Tôi đã hẹn rồi. Tôi sẽ kiến nghị với ngài về những điều kiện lao động của người làm mũ. Tôi vẫn tiếp tục làm việc, bà thấy đó, ngay cả khi bà đã nguyền tôi.”

“Vậy thì cô đã đi sai đường rồi,” bà phù thủy đáp. “Hoàng cung nằm đằng sau lưng cô kia.”

“Ồ, vậy sao?” Sophie thốt. Cô không cần phải giả vờ ngạc nhiên. “Vậy là tôi đã đi một vòng. Tôi mất hết phương hướng từ khi bà làm tôi thành thế này.”

Bà phù thủy cười khoái trá và không tin một từ cô nói. “Vậy thì đi với tôi,” bà nói, “tôi sẽ dẫn cô đến Hoàng cung.”

Sophie không thể làm gì hơn là quay đầu lại và bước theo sau bà phù thủy, với hai cậu bé đang lê bước theo sau cả hai. Giận dữ và tuyệt vọng dâng lên trong Sophie. Cô nhìn bà phù thủy đang duyên dáng lướt đi bên cạnh và nhớ phu nhân Pentstemmon đã nói bà phù thủy đã là một bà già rất già. Không công bằng! Sophie nghĩ, nhưng cô không thể làm được gì hết.

“Tại sao bà lại biến tôi thành như vậy?” cô gạn hỏi khi họ bước trên một con đường lớn có hồ phun nước lớn chính giữa.

“Cô đã ngáng đường không cho tôi lấy tin mà tôi cần,” bà phù thủy đáp. “Dĩ nhiên tôi cuối cùng cũng lấy được nó.”

Sophie khá bối rối về việc này. Cô băn khoăn liệu nói là có lầm lẫn ở đây có được không, khi bà phù thủy thêm vào, “Dù tôi dám nói cô không biết là cô đã làm vậy,” và phá lên cười, như đó là việc tức cười nhất vậy. “Cô có nghe đến xứ sở gọi là Wales chưa?” bà ta hỏi.

“Chưa,” Sophie đáp. “Có phải ở dưới biển không?”

Bà phù thủy làm như thể đó là chuyện buồn cười nhất trên đời. “Không phải giây phút này,” bà nói. “Đó là nguyên quán của Pháp sư Howl. Bà biết Pháp sư Howl, đúng không?”

“Chỉ nghe đồn thôi,” Sophie chối. “Y ăn con gái. Y cũng độc ác như bà.” Nhưng cô thấy lạnh. Không phải vì cái hồ phun nước mà họ vừa đi ngang qua ngay lúc ấy. Phía sau hồ phun nước, ngang qua một khu công viên lót đá hoa hồng là những bậc thang đá dẫn đến Hoàng cung.

“Ở kia kìa. Đó là Hoàng cung,” bà phù thủy nói. “Cô liệu có trèo lên được cầu thang không đó?”

“Bà cũng có hay ho gì đâu,” Sophie đáp. “Hãy làm tôi trẻ lại và tôi sẽ chạy lên đó, ngay cả trong trời này.”

“Như thế thì có gì là vui chứ,” bà phù thủy trả lời. “Đi đi nào. Và nếu bà được phép tiếp kiến nhà vua, hãy nói với y là ông nội y đã lưu đày ta ra miền Hoang phế và ta vẫn còn hận y.”

Sophie tuyệt vọng nhìn dãy cầu thang dài dằng dặc. Ít nhất là cũng không có ai ở trên đó ngoài những người lính gác. Với vận may của cô ngày hôm nay, cô cũng không ngạc nhiên nếu nhìn thấy Michael và Howl đang trên đường đi xuống. Vì bà phù thủy rõ ràng sẽ đứng ở đó nhìn cô đi, Sophie không còn cách nào khác là leo lên. Cô tập tễnh bước, qua những cậu lính đầy mồ hôi, đến cổng Hoàng cung lần nữa, mỗi bước lại mỗi căm ghét bà phù thủy hơn. Cô quay lại, thở hồng hộc, tại đỉnh cầu thang. Mụ phù thủy vẫn còn ở đó, váy nâu đỏ bay phất phới dưới chân, hai hình dạng màu cam đứng bên cạnh, đang trông chờ cảnh Sophie bị đuổi ra ngoài.

“Mắc toi!” Sophie thốt. Cô bước tập tễnh đến những người tùy tùng trước cổng. Vận rủi của cô vẫn còn đeo đủi. Không có dấu của Michael hay Howl phía sau gì hết. Cô buộc phải nói với lính gác, “Tôi còn có chuyện quên nói với Đức Vua.”

Họ vẫn nhớ cô. Họ để cô đi vào trong, được một tùy tùng bận găng tay trắng dẫn đi. Và trước khi Sophie định thần lại, qui trình máy móc của Hoàng cung lại vận hành lần nữa, và cô bị trao tay từ người này sang người khác, y như lần trước, cho đến khi cô đến trước hai cánh cửa và người mặc áo xanh xướng, “Pendragon phu nhân lại xin yết kiến Hoàng thượng.”

Như một cơn ác mộng, Sophie nghĩ khi lại bước vào căn phòng rộng lớn. Cô không còn lựa chọn, cô phải làm ô danh Howl lần nữa. Chỉ là, với tất cả mọi chuyện xảy ra, và sự sợ hãi đã trở lại, tâm trí cô càng trống rỗng hơn bao giờ.

Đức vua, lần này, đang đứng tại một cái bàn lớn ngay góc phòng, bồn chồn di chuyển những lá cờ trên bản đồ. Ngài ngước nhìn lên đầy hứng thú, “Họ bảo bà có chuyện quên nói với tôi.”

“Vâng,” Sophie đáp. “Howl nói rằng nó sẽ chỉ tìm Vương gia Justin với điều kiến ngài phải hứa gả công chúa cho nó.” Cái gì làm mình nói như vậy? Cô nghĩ. Ông ta sẽ chém đầu cả hai đứa hết.

Nhà vua liếc nhìn cô đầy lo lắng, “Bà Pendragon, bà phải biết rằng điều đó hoàn toàn không thể được” ngài nói. “Tôi biết bà rất quan tâm đến con trai bà để đề nghị điều ấy, nhưng bà không thể trói y trong tạp dề của bà hoài được, và ta đã quyết định rồi. Mời bà đến đây và ngồi xuống. Bà có vẻ mệt.”

Sophie run rẩy bước đến cái ghế thấp Nhà vua chỉ và ngồi thộp vào trong, không biết khi nào quân lính sẽ ập đến để bắt cô.

Nhà vua nhìn lơ láo xung quanh. “Con gái tôi vừa mới ở đây,” ngài nói. Sophie hết sức ngạc nhiên khi ngài ngồi sụp xuống, và nhìn dưới bàn. “Valeria,” ngài gọi. “Vallie, ra đây ngay. Hướng này, con gái ngoan.”

Có tiếng động sột soạt. Sau một giây, công chúa Valeria hiện ra từ dưới gầm bàn trong tư thế ngồi chồm hổm, miệng cười toe toét. Nàng có bốn cái răng. Trên đầu nàng không có cả một mái tóc đàng hoàng nữa. Nàng chỉ có lơ thơ vài lọn màu trắng ở bên trên hai lỗ tai. Khi trông thấy Sophie, miệng công chúa càng mở rộng ra hơn và nàng lấy bàn tay đang ngặm trong miệng ra, với tới nắm của Sophie. Váy Sophie trả lời với một vết ướt loang lổ khi nàng công chúa tự kéo mình đứng dậy. Nhìn Sophie chăm chăm, Valeria gởi một lời chào thân thiện bằng một giọng rõ ràng là một thứ ngoại ngữ riêng tư.

“Oh,” Sophie thốt, cảm thấy ngốc nghếch kinh khủng.

“Tôi hiểu lòng cha mẹ là thế nào, bà Pendragon,” Nhà Vua đáp.

Chương 14: trong đó vị Pháp sư Hoàng gia lâm bệnh

Sophie trở về cổng Kingsbury của lâu đài trong cỗ xe ngựa hoàng gia, do bốn con ngựa kéo. Trên đó còn có một người đánh xe, một người giữ ngựa, và một người hầu cận. Một vệ binh và sáu kỵ binh hoàng gia theo sau để bảo vệ. Nguyên nhân là công chúa Valeria. Cô bé trèo vào ngồi trên đùi Sophie. Khi chiếc xe ngựa cồng cộc chạy xuống đồi, váy Sophie vẫn còn phủ đầy vết ướt nhẹp của Valeria. Sophie mỉm cười một chút. Cô nghĩ Martha có thể đã đúng, muốn sinh con đẻ cái, mặc dù có mười Valeria quả là hơi nhiều. Khi Valeria đang bò trong lòng cô, Sophie nhớ về tin đồn bà phù thủy đã đe dọa tiểu công chúa, và cô nói với bé, “Mụ phù thủy sẽ không đụng được tới cháu. Bà sẽ không cho phép!”

Đức Vua chẳng nói gì cả khi nghe những lời này, nhưng ngài truyền cỗ xe hoàng gia cho cô.
Cỗ xe dừng lại ồn ào huyên náo bên ngoài cái chuồng ngựa cải trang, Michael nhảy ra cửa, và chạy sầm vào người hầu cận đang giúp cô bước xuống. “Bà đã đi đâu vậy?” cậu nói. “Cháu lo lắng hết sức! Và anh Howl đang rất buồn bực…”

“Tôi biết ngay mà,” Sophie thấu hiểu.

“Bởi vì Pentstemmon phu nhân đã qua đời,” Michael tiếp.

Howl cũng ra ngoài cửa. Trông anh rất xanh xao và buồn bã. Anh đang cầm một cuộn giấy và dấu ấn xanh đỏ của hoàng gia đang đung đưa, mà Sophie nhìn với vẻ hối lỗi. Howl đưa cho người trưởng đòan một đồng vàng và không nói một lời đến khi nhóm người đi khỏi. Rồi anh nói, “Tôi đồ rằng bốn con ngựa và mười người hộ tống chỉ để tống khứ một bà già đi. Bà đã làm gì Đức Vua vậy?”

Sophie theo sau Howl và Michael vào nhà, tưởng sẽ nhìn thấy căn phòng đầy nhớt xanh. Nhưng không có, Calcifer đang bừng cháy sáng rỡ lên trên ống khói, cái miệng tím nhăn răng cười toe toét. Sophie ngã mình trên cái ghế. “Tôi cho là Nhà Vua đã phát bực với tôi cứ tìm gặp ổng và nói xấu cậu hoài. Tôi đã đi hai lần,” cô nói. “Mọi thứ đều có chuyện trục trặc hết. Và tôi đã gặp bà Phù thủy đang đi khi vừa giết chết Pentstemmon phu nhân. Một ngày dễ sợ!”

Trong Sophie kể lại mọi việc thì Howl dựa vào lò sưởi, tay đu đưa cái cuộn như là muốn quẳng cho Calcifer ăn. “Coi chừng vị Pháp sư Hoàng gia mới,” anh nói. “Tên ta rất là đen.” Và anh phá lên cười, mặc cho Sophie và Michael nhìn nhau ngơ ngác. “Và bà đã làm gì với Công tước Catterack nữa?” anh sặc sụa. “Tôi không nên để bà đến gần Đức Vua!”

“Tôi đã bôi đen tên cậu mà!” Sophie phản đối.

“Tôi biết. Đó là tính toán sai lầm của tôi,” Howl đáp. “Oy, làm sao để đi dự đám tang bà Pentstemmon mà không gây sự chú ý của bà phù thủy đây? Có ý kiến gì không, Calcifer?”

Rõ ràng là Howl buồn bã về cái chết của bà Pentstemmon hơn bất cứ cái gì hết.

Michael là người lo lắng về bà phù thủy. Cậu thú nhận sáng hôm sau là cậu đã có ác mộng cả đêm. Cậu đã mơ bà ta tấn công tòa lâu đài qua tất cả cánh cửa cùng một lúc. “Anh Howl đâu?” cậu băn khoăn hỏi.

Howl đã rời khỏi từ sáng sớm, căn phòng tắm sực nức hương thơm như thường lệ. Anh đã không cầm theo cây guitar, và nút vặn cửa chỉ màu xanh lục xuống. Ngay cả Calcifer còn biết chuyện hơn. “Đừng mở cửa cho bất cứ ai,” Calcifer nói. “Mụ phù thủy biết tất cả cánh cổng trừ cái ở Porthaven.”

Câu nói làm Michael cảnh giác đến mức cậu lượm vài thanh củi ở ngoài sân và gác nó lên cửa. Rồi cậu làm việc với câu thần chú lấy lại từ cô Angorian.

Nửa giờ sau, nút vặn cửa bị quay xuống chỉa thành màu đen. Cánh cửa bắt đầu nảy bật lên. Michael nắm chặt tay Sophie. “Đừng có sợ,” cậu run run thốt. “Cháu sẽ bảo vệ bà.”

Cánh cửa nảy lên mạnh mẽ một hồi lâu. Rồi nó ngừng lại. Michael chỉ vừa thả Sophie ra tưởng xong thì một tiếng nổ đinh tai nhức óc vang lên. Các thanh gỗ văng ra xa trên mặt đất. Calcifer thụp sâu xuống bếp và Michael nhảy bổ vào kho chứa đồ, bỏ lại Sophie đứng chơ vơ ở đó khi cánh cửa bật mở ra và Howl nhảy vào.

“Thật là quá đáng đó, Sophie!” anh kêu lên. “Tôi cũng sống ở đây.” Mình anh ướt mẹp. Bộ áo xám đỏ trở thành đen nâu. Nước nhỏ lộp độp từ mái tóc và tay áo.

Sophie nhìn cánh cửa, vẫn còn quay xuống màu đen. Là cô Angorian, cô nghĩ. Và anh đã đến thăm cô ta trong bộ áo bị phù phép. “Cậu vừa ở đâu đó?” cô nói.

Howl hắt xì. “Đứng trong mưa. Không phải chuyện của bà,” giọng anh khàn khàn. “Mấy thanh gỗ kia để làm gì vậy?”

“Em làm đó,” Michael nói, lách ra khỏi kho chứa đồ. “Mụ phù thủy…”

“Chắc cậu nghĩ tôi không biết tôi đang làm gì sao,” Howl khó chịu đáp. “Tôi đặt nhiều bùa dẫn đường sai đến mức nhiều người hoàn toàn không tìm được chúng ta nữa. Tôi cho bà phù thủy ba ngày. Calcifer, tôi cần trà nóng.”

Calcifer vừa mới trèo lên mấy khúc củi, nhưng khi Howl lại gần lò sưởi, cậu ta lại thụp xuống. “Đừng có đến gần tôi như thế! Người cậu ướt nhẹp!” hỏa yêu hét.

“Sophie,” Howl năn nỉ.

Sophie khoanh tay không khoan nhượng. “Còn Lettie thì sao?” cô nói.

“Tôi bị ướt như chuột lột,” Howl đáp. “Tôi nên có tách trà nóng.”

“Và tôi nói, Còn Lettie Hatter thì sao?” Sophie trả lời.

“Không thèm bà nữa!” Howl kêu. Anh lắc mình. Nước từ người anh rớt xuống sàn xung quanh thành một vòng tròn. Howl bước ra khỏi nó với mái tóc đã khô ráo và bộ quần áo trở lại màu xám đỏ, không một chút ẩm ướt, và đi lấy cái chảo. “Thế giới đầy những phụ nữ nhẫn tâm, Michael,” anh nói. “Anh có thể nêu tên ba người mà không cần phải nghĩ ngợi.”

“Một trong số đó là cô Angorian chứ?” Sophie hỏi.

Howl không trả lời. Anh lờ Sophie hết cả buổi sáng còn lại trong lúc bàn chuyện dời tòa lâu đài với Michael và Calcifer. Howl sẽ thật sự bỏ trốn, y như cô đã cảnh cáo với Đức Vua, Sophie nghĩ lúc ngồi khâu các mảnh vải hình tam giác của bộ áo màu xanh bạc. Cô biết mình phải cởi bỏ bộ xám đỏ khỏi Howl càng sớm càng tốt.

“Tôi không nghĩ ta cần phải chuyển cổng Porthaven đi,” Howl nói. Anh làm phép hiện một cái khăn tay từ không khí và hỉ mũi thật mạnh làm Calcifer phải nhấp nhỏm bất ổn. “Nhưng tôi muốn tòa lâu đài càng xa những nơi khác mà nó từng qua càng tốt, và cổng Kingsbury phải đóng thôi.”

Vừa lúc đó có tiếng gõ cửa. Sophie để ý thấy Howl nhảy dựng lên và nhìn quanh ngại ngùng y như Michael. Không ai trong bọn họ trả lời. Chết nhát! Sophie khinh bỉ nghĩ. Cô không biết tại sao mình lại chịu những việc rắc rối cho Howl ngày hôm qua làm gì. “Mình đã điên thật rồi!” cô thì thầm với bộ áo xanh bạc.

“Còn cánh cổng đen thì sao?” Michael hỏi khi người gõ cửa dường như đã bỏ đi.

“Cái đó giữ,” Howl đáp, và phẫy tay lấy một cái khăn tay khác từ không khí.

Tất nhiên, Sophie nghĩ. Cô Angorian ở ngoài đó mà. Tội nghiệp Lettie!

Đến khoảng giữa buổi sáng, thì Howl phải lấy hai ba cái khăn tay một lượt. Sophie thấy chúng chỉ còn là mấy mảnh giấy vuông vuông. Anh hắt xì liên tục. Giọng khàn đi. Không lâu sau anh phải lấy một lúc cả sáu cái. Khăn xài rồi xếp đầy xung quanh Calcifer thành một đống.

“Ô, tại sao cứ mỗi lần đến Wales là tôi lại bị cảm!” Howl rên rỉ và phẩy tay lấy ra một nhúm khăn giấy.

Sophie khịt mũi.

“Bà nói gì đó?” Howl khò khè.

“Không, tôi đang nghĩ mấy người hay chạy trốn thì đáng bị cảm lạnh lắm,” Sophie đáp. “Mấy người được Đức Vua chỉ định làm việc mà lại đi tán gái ở dưới mưa thì còn than trách ai nữa.”

“Bà không biết mọi chuyện mà tôi làm, bà Đạo Đức ạ,” Howl trả lời. “Muốn tôi viết danh sách mỗi khi tôi ra ngoài hay không? Tôi đã đi tìm Hoàng tử Justin rồi. Tán gái đâu phải là điều duy nhất tôi làm khi đi ra ngoài đâu.”

“Cậu tìm hồi nào?” Sophie hỏi.

“Ồ, xem đôi tai ve vẩy và cái mũi dài xoay kìa!” Howl khò khè tiếp. “Tôi tìm khi ông ta vừa biến mất, dĩ nhiên. Tôi tò mò muốn biết tại sao Justin lại đi đến chỗ này, khi mọi người đều biết Suliman đã đi đến vùng Hoang Phế. Tôi nghĩ có người đã bán thần chú tìm kiếm giả mạo cho ông ta, bởi vì ông ấy đi thẳng đến Folding Valley và mua cái nữa từ bà Fairfax. Điều đó lại dẫn ông trở về hướng này, tất nhiên, nơi ông dừng lại ở lâu đài và Michael lại bán một cái thần chú tìm kiếm, và hóa trang…”

Tay Michael chụp lên miệng. “Vậy cái anh bận quân phục màu xanh đó là Hoàng tử Justin hả?”

“Đúng, nhưng anh đã không nhắc chuyện đó trước kia,” Howl đáp, “bởi vì Đức Vua có thể nói sao cậu không bán cho ông ta một cái bùa giả nữa. Tôi có lương tâm đấy. Lương tâm. Chú ý từ đó, bà Mũi Dài. Tôi có lương tâm.” Howl lại phù phép một nùi khăn giấy nữa và quắc nhìn Sophie với cặp mắt giờ đã đỏ ngầu và sũng nước. Rồi anh đứng dậy. “Tôi muốn bệnh,” anh tuyên bố. “Tôi đi nằm chết đây.” Anh bước đi xiêu vẹo lên cầu thang một cách đáng tội nghiệp. “Hãy chôn tôi cạnh bà Pentstemmon,” anh khò khè nói.

Sophie ép mình phải càng khâu nhanh hơn bao giờ. Đây là cơ hội để cô gỡ bỏ bộ xám đỏ khỏi người Howl trước khi nó làm hủy hoại trái tim của cô Angorian – trừ khi, dĩ nhiên, là Howl nằm ngủ với nguyên bộ quần áo đó, chuyện mà cô cho là Howl dám làm lắm. Vậy là Howl đã đi tìm Justin từ khi ông ta lên Upper Folding và gặp Lettie. Lettie đáng thương! Sophie nghĩ, tay thoăn thoắt thêu từng đường kim mũi chỉ nhỏ nhắn, dứt khoát quanh cái tam giác xanh thứ năm mươi bảy. Chỉ còn khoảng bốn chục cái nữa là xong.

Tiếng Howl la lên yếu ớt, “Giúp tôi với! Tôi đang chết vì bị bỏ rơi ở trên đây đây!”

Sophie khì mũi. Michael bỏ cái bùa chú đang làm để chạy lên chạy xuống cầu thang. Mọi việc đều rối ren. Trong thời gian Sophie khâu hơn mười tam giác xanh, Michael chạy lên cầu thang với chanh và mật ong, với một quyển xách, với nước trị ho, với một cái muỗng để khuấy nước trị ho, rồi với nước nhỏ mũi, kẹo the, kem súc miệng, bút, giấy, ba quyển sách, và một chén nước ép vỏ cây liễu. Người ta cứ đến gõ cửa hòai, làm Sophie giật nảy mình và Calcifer nhấp nháy sợ sệt. Khi không ai mở cửa, một vài người tiếp tục đập thình thình khoảng năm phút hơn, nghĩ rất đúng là mình đang bị lờ đi.

Đến lúc này thì Sophie lo cho bộ áo xanh bạc. Nó càng lúc càng nhỏ dần. Không thể nào khâu hàng đống mảnh tam giác đó mà không tốn vải. “Michael,” cô nói khi Michael chạy vội xuống cầu thang lần nữa bởi vì Howl muốn ăn trưa bằng bánh mì kẹp thịt xông khói. “Michael, có cách nào làm áo nhỏ to hơn không?”

“Dạ, được,” Michael đáp. “Đó là cái thần chú mới của cháu mà – khi cháu có cơ hội nghiên cứu nó. Anh Howl muốn sáu miếng thịt xông khói trong bánh mì. Bà có thể nói với Calcifer được không?”

Sophie và Calcifer liếc mắt nhìn nhau. “Tôi không nghĩ Howl đang chết,” Calcifer nói.

“Tôi sẽ cho cậu ăn vụn bánh nếu cậu chịu cúi đầu,” Sophie đáp, đặt kim chỉ xuống. Dụ dỗ Calcifer thì dễ hơn là ăn hiếp cậu ta.

Bọn họ ăn trưa bằng bánh mì kẹp thịt xông khói, nhưng Michael phải chạy vội lên cầu thang giữa bữa ăn. Howl bảo cậu đi Market Chipping để mua một vài thứ cần thiết cho việc chuyển dời tòa lâu đài.

“Nhưng còn bà phù thủy … có an toàn không?” Sophie hỏi.

Michael liếm mỡ thịt xông khói trên ngón tay và lao vào trong kho chứa đồ. Cậu bước ra với một cái áo choàng nhung đầy bụi vắt trên vai. Cuối cùng, người đi ra ngoài bận áo choàng là một người đàn ông vạm vỡ râu đỏ. Người đó mút ngón tay và nói bằng giọng của Michael, “Anh Howl nói cháu làm vậy là an toàn rồi. Nó có cả thần chú chỉ đường sai và hóa trang nữa. Không biết Lettie có nhận ra cháu không.” Người đàn ông vạm vỡ mở cửa xanh lục xuống và nhảy ra cánh đồi bên ngòai.

Yên tĩnh đã trở lại. Calcifer cũng lắng xuống và kêu tí tách. Howl rõ ràng cũng nhận ra rằng Sophie sẽ không chạy quanh trông chừng anh. Trên lầu hoàn tòan im ắng. Sophie đứng dậy và len lén đi đến kho chứa đồ. Đây là cơ hội để cô đi thăm Lettie. Lettie có lẽ đang rất khốn khổ. Sophie chắc là Howl đã không gặp cô bé từ ngày ấy trong vườn. Nếu Sophie bảo Lettie là tình cảm của cô chỉ vì cái áo bị phù phép thì sẽ an ủi được phần nào. Dù sao, cô cũng nợ Lettie một lời giải thích.

Đôi hài bảy dặm không còn nằm trong tủ. Thoạt đầu Sophie không thể tin được. Cô lôi mọi thứ ra. Và không có gì nữa ngoài mấy cái thùng nước, chổi, và một cái áo choàng nhung khác. “Quỷ sứ mắc dịch!” Sophie kêu. Howl rõ ràng không muốn cô theo dõi anh nữa.

Cô đặt mọi thứ trở lại vào trong tủ khi có tiếng gõ cửa. Sophie, như thường lệ, giật mình và hi vọng họ sẽ đi đi. Nhưng người này có quyết tâm hơn cả. Tiếng gõ cửa vẫn vang lên – hoặc có lẽ là tiếng giộng mình vào cửa, bởi vì âm thanh phát ra là tiếng whump, whump, whump đều đặn hơn. Sau năm phút mà người đó vẫn tiếp tục đập cửa.

Sophie nhìn những tia lửa xanh tí tách, là tất cả Calcifer mà cô có thể nhìn thấy. “Phải bà phù thủy không?”

“Không,” Calcifer lúng búng dưới mấy khúc củi. “Cánh cửa tòa lâu đài. Người nào đó hẳn đang chạy cạnh chúng ta. Chúng ta đang đi rất nhanh.”

“Có phải là con bù nhìn không?” Sophie hỏi, tim cô đập thình thình trước ý nghĩ đó.

“Nó có máu thịt,” Calcifer đáp. Khuông mặt xanh dương trèo lên đỉnh ống khói, băn khoăn. “Tôi không biết là gì nữa, trừ một chuyện là nó muốn vào trong lắm. Tôi không nghĩ nó có thể gây hại.”

Bởi vì tiếng whump whump vẫn còn tiếp tục, làm cho Sophie có cảm giác khó chịu như mình bị hối thúc, cô quyết định mở cửa, và ngừng nó lại. Hơn nữa, cô cũng tò mò muốn biết nó là gì. Cô vẫn còn nắm cái áo choàng nhung thứ hai trong tay sau khi lục tung cả cái kho chứa đồ lên. Vì thế, cô ném nó qua vai khi cô đi ra cửa. Calcifer ngó sững. Và, lần đầu tiên từ khi cô biết hỏa yêu, cậu ta tự động cúi đầu xuống. Tiếng cười khùng khục phát ra từ dưới những ngọn lửa xanh dương xoăn tít. Băn khoăn không biết áo choàng đã biến cô thành gì, Sophie mở cửa.

Một chú chó săn khổng lồ nhảy chồm lên từ ngòai sườn đồi giữa những khối đen của tòa lâu đài và hạ chân vào trong giữa phòng. Sophie thả áo choàng xuống và chạy vội ra sau. Cô luôn sợ chó, và chó săn lại càng không có vẻ gì làm cô yên lòng cả. Con này đặt mình chặn giữa cô và cánh cửa, rồi ngó cô chằm chằm. Sophie liếc những tảng đá đang chạy và đồng cỏ thiên thanh bên ngoài, tự hỏi không biết có nên gọi Howl không.

Con chó cong cái lưng đã cong lại và bằng cách nào đó kéo thân mình nó đứng lên trên hai chân. Nó gần cao bằng Sophie. Hai chân trước giơ ra cứng nhắc và lại rướn thẳng nữa. Vừa lúc Sophie há miệng ra tính kêu Howl, con vật đưa ra một nỗ lực hết sức mạnh mẽ và bật thẳng lên biến thành hình dáng của một người đàn ông bận đồ màu xám nhăn nhúm. Y có mái tóc màu gừng và khuôn mặt xanh xao, buồn bã.

“Từ Upper Folding tới!” người-chó nói hổn hển. “Yêu Lettie… Lettie kêu tôi đến… Lettie khóc và rất buồn… kêu tôi đến với cô… bảo tôi ở lại…” Y bắt đầu gập mình và thu nhỏ lại trước khi nói hết. Y tru lên tuyệt vọng và khó chịu. “Đừng nói với Pháp sư!” y rên rỉ và thu mình trong mái tóc đỏ xoăn thành một một con chó trở lại. Một con chó khác. Lần này y là con lông xù màu đỏ. Con chó lông xù đỏ lúc lắc cái đuôi ngắn và hai mắt khốn khổ của nó nhìn Sophie khẩn khoản, van xin.

“Ồ, trời phật ơi,” Sophie nói khi đóng cửa lại. “Ông bạn thật đúng là gặp rắc rối. Ông là con chó xám đó phải không? Bây giờ tôi hiểu dì Fairfax đã nói gì. Mụ phù thủy đúng là muốn bị giết mà, đúng thật sự! Nhưng tại sao Lettie lại cho ông đến đây? Nếu ông không muốn tôi nói với pháp sư Howl…”

Con chó gầm gừ nho nhỏ khi nghe cái tên đó. Nhưng nó cũng ve vẩy đuôi và nhìn cầu khẩn.
“Được rồi. Tôi sẽ không nói với Howl,” Sophie hứa. Con chó có vẻ yên lòng. Y chạy đến cạnh lò sưới, liếc Calcifer thận trọng và nằm xuống cạnh thanh cời lửa, mình cuộn thành một đống lông đỏ nhỏ nhắn. “Calcifer, cậu nghĩ sao?” Sophie cất tiếng.

“Con chó này là một người bị nguyền,” Calcifer nói điều tất nhiên.

“Tớ biết, nhưng cậu có thể tháo bỏ lời nguyền không?” Sophie hỏi. Cô đoán Lettie đã nghe đồn, như nhiều người khác, là Howl đang có một bà phù thủy làm việc cho anh. Và dường như việc biến con chó thành người đàn ông, để ông ta trở về Upper Folding trước khi Howl thức dậy và nhìn thấy ông ta, trở nên quan trọng.

“Không. Tôi cần liên kết với Howl để làm thế,” Calcifer đáp.

“Được rồi, để tôi thử một mình,” Sophie nói. Lettie đáng thương! Bị Howl bỏ rơi, và người đàn ông khác lại là một con chó hầu hết thời gian! Sophie đặt bàn tay lên cái đầu tròn trịa, mềm mại của con chó. “Trở lại thành người đàn ông đi,” cô nói. Cô lặp lại nhiều lần, nhưng điều đó chỉ làm con chó ngủ say hơn. Nó ngáy và cuộn quanh chân Sophie.

Trong khi đó, trên lầu lại vang lên tiếng nhiều tiếng rên rỉ. Sophie vẫn tiếp tục thì thầm với con chó và lờ đi tiếng rên. Một tràng ho xé ruột thật là to theo sau, lịm vào nhiều tiếng kêu rên. Sophie cũng giả vờ không nghe. Tiếng hỉ mũi ầm ầm theo sau tiếng ho, mỗi cái làm long cả cửa sổ và cửa chính. Sophie thấy khó mà lờ đi được, nhưng cô cũng cố gắng. Pooot-pooooot! tiếng hỉ mũi tiếp tục, như tiếng kèn trong một đường hầm. Và tiếng ho lại cất lên, xen lẫn tiếng rên la. Những cái hắt hơn xen lẫn tiếng rên, và tiếng ho, và âm thanh trở thành một giàn giao hưởng mà Howl tự mình đạo diễn ho, rên, hỉ mũi, hắt hơi, và rên nhẹ nhàng cùng một lúc. Cánh cửa lung lay, xà nhà rung chuyển, và một cây củi của Calcifer lăn xuống sàn.

“Được rồi, được rồi, tôi hiểu ý anh rồi!” Sophie kêu, liệng khúc củi trở lại vào trong lò. “Sẽ có nhớt xanh kế tiếp chứ gì. Calcifer, canh chừng con chó đó nha.” Rồi cô ì ạch leo cầu thang, miệng lầm bầm lớn tiếng, “Thiệt tình, mấy gã pháp sư! Làm như là từ trước đến nay chưa có ai bị cảm vậy đó! Well, cái gì thế?” cô hỏi, tập tễnh xuyên qua cánh cửa phòng và bước lên tấm thảm bẩn thỉu.

“Tôi đến chết vì buồn chán mất,” Howl rên rỉ đáng thương. “Hay là chỉ đang chết thôi.”

Anh đang nằm trong đống gối xám dơ bẩn, trông rất tiều tụy, trên mình phủ một cái có lẽ là tấm khăn trải giường, chỉ có điều là nó cùng một màu với bụi bặm. Bọn nhền nhện mà anh yêu mến thì đang bận rộn giăng tơ ngay trên đầu giường.

Sophie rờ trán anh. “Cậu bị sốt một chút,” cô thú nhận.

“Tôi mê sảng rồi,” Howl đáp. “Những đốm đen đang bò trước mắt tôi.”

“Đó là mấy con nhện,” Sophie nói. “Tại sao cậu không tự chữa mình bằng thần chú đi?”

“Bởi vì không có cách nào chữa cảm,” Howl ai oán nói. “Mọi chuyện cứ quay mòng mòng trong đầu tôi – hay có lẽ đầu tôi đang quay mòng mòng quanh mọi chuyện. Tôi cứ nghĩ về những lời trong câu thần chú của bà phù thủy. Không ngờ bà ta có thể bắt được tôi dễ dàng như thế. Bị bắt rất là xấu mặc dù mọi thứ đến giờ đều là tại tôi làm hết. Tôi chỉ chờ cho các thứ còn lại xảy ra thôi.”

Sophie nhớ lại những câu đố trong bài thơ. “Thứ gì chứ? ‘Kể tôi nghe những năm tháng qua ở đâu’?”

“Oh, tôi biết,” Howl nói. “Của chính tôi, không ai khác. Chúng ở đó, ở nơi mà chúng thường ở. Tôi có thể đi và hóa thành tiên xấu tại lễ rửa tội của tôi nếu muốn. Có lẽ tôi đã làm thế và đó là nguyên nhân của mọi sự rắc rối. Không, có ba thứ tôi đang chờ đợi: mỹ nhân ngư, rễ ớt ma, và cơn gió thúc đẩy tâm trí thật thà. Và xem tôi có tóc trắng hay không, có lẽ, chỉ là tôi không thể xóa bỏ thần chú đó được để xem. Chỉ còn ba tuần nữa là chúng sẽ đến, và bà phù thủy sẽ bắt được tôi. Nhưng mà Cuộc Hội Ngộ của Câu Lạc Bộ Rugby là hôm trước ngày Hạ Chí, nên ít nhất tôi cũng xem được nó. Những cái khác đã xảy ra từ lâu rồi.”

“Ý cậu là ngôi sao sa và không thể nào tìm được người phụ nữ xinh đẹp và thật lòng đó hả?” Sophie đáp. “Tôi không ngạc nhiên, với cách cậu xử sự. Bà Pentstemmon nói với tôi là cậu đang đi về hướng xấu. Bà nói đúng, phải không?”

“Tôi phải đến dự tang lễ của bà ngay cả khi không còn mạng,” Howl buồn bã. “Bà Pentstemmon lúc nào cũng nghĩ tốt về tôi. Sự quyến rũ đã làm bà mù quáng.” Nước trào ra từ mắt anh. Sophie không biết là anh có thật sự khóc hay chỉ là cơn bệnh. Nhưng cô để ý là anh đang trườn đi lần nữa.

“Tôi đang nói tới cái cách cậu cứ bỏ con người ta ngay khi cậu làm người ta thích cậu,” cô phán. “Tại sao lại làm vậy?”

Howl giơ ngón tay run run chỉ lên thành giường. “Đó là nguyên nhân tôi thích nhền nhện,” anh nói. “Nếu không thành công thì cố, cố, cố lần nữa.’ Tôi cứ cố gắng hòai,” giọng anh buồn bã. “Nhưng tôi đã tự mình hại mình khi làm cuộc trao đổi đó mấy năm trước, và tôi biết tôi sẽ không còn yêu ai được nữa.”

Nước chảy ra khỏi mắt Howl bây giờ chắc chắn là nước mắt. Sophie lo lắng. “Nào, cậu không nên khóc…”

Có tiếng kêu lộp độp bên ngoài. Sophie quay lại và nhìn thấy người chó đang thu mình thành một cuộn tròn để cố lách qua cánh cửa. Cô vươn tay, và nắm một nắm lông đỏ, cho rằng y sẽ nhất định cắn Howl. Nhưng con chó chỉ dụi vào chân cô làm cô phải lảo đảo dựa vào tường.

“Cái gì vậy?” Howl hỏi.

“Con chó mới của tôi,” Sophie nói, tay nắm chặt lông nó. Bây giờ cô đang dựa vào tường, cô có thể nhìn qua cửa sổ phòng ngủ. Đáng lẽ nó phải nhìn ra sân sau, nhưng nó lại hiện một khu vườn hình vuông, đẹp đẽ với cái xích đu ở giữa. Sophie nhìn thấy cháu gái của Howl, cô bé Mari, chạy trên thảm cỏ xanh mướt. Chị Howl, Megan, theo sau Mari. Cô đang la Mari không nên ngồi trên xích đu còn ướt, nhưng không có tiếng gì vang lên. “Không phải là xứ Wales đó sao?” Sophie hỏi.

Howl phá ra cười, tay đập đập trên khăn trải giường. Bụi bay mờ mịt như khói. “Con chó mắc dịch!” anh khào khào. “Tôi đã cá với mình là tôi có thể giữ không cho bà ngó ra ngoài cửa sổ lúc bà ở trong phòng này.”

“Có thật không?” Sophie đáp, và cô buông con chó ra, hi vọng nó sẽ cắn Howl thật mạnh. Nhưng con chó chỉ tiếp tục dúi vào cô, đẩy cô ra cửa. “Vậy là tất cả bài hát và nhảy múa hồi nãy chỉ là một trò chơi, phải không?” cô nói. “Tôi phải biết chứ!”

Howl ngả người ra trên cái gối xám, vẻ tổn thương. “Có khi,” anh khiển trách, “bà nói cứ như là Megan.”

“Có khi,” Sophie trả lời, suỵt đuổi con chó ra khỏi phòng, “tôi hiểu tại sao Megan lại trở thành như thế.” Rồi cô sập cửa lên mấy con nhện, bụi bặm, và khu vườn một cái rầm.

Chương 15: trong đó Howl dự đám tang trong lớp ngụy trang

Người-chó cuộn tròn người và đè lên chân Sophie khi cô trở về công việc khâu vá của mình. Có lẽ y hi vọng cô sẽ tháo gỡ lời nguyền nếu cu71 ở gần cô. Một người đàn ông to lớn, râu đỏ tung cửa vào nhà, tay khệ nệ bưng một cái hộp đầy đồ, và tháo cái áo khoác nhung thành Michael, vẫn còn bưng cái hộp ắp, người-chó ngồi dậy và lắc lư cái đuôi. Y để Michael vỗ đầu và vuốt tai.

“Hi vọng nó sẽ ở lại,” Michael nói. “Cháu luôn muốn có một con chó.”

Howl nghe tiếng Michael. Anh xuống cầu thang quấn trong cái khăn trải giường màu nâu. Sophie ngừng tay khâu và cẩn thận níu chặt con chó. Nhưng nó cũng rất ngoan ngoãn với Howl, không tỏ vẻ phản đối khi Howl đưa tay ra khỏi cái khăn trải giường và vỗ đầu nó.

“Sao rồi?” Howl khàn khàn, tỏa ra từng đám bụi mờ khi anh rút khăn tay ra từ không khí.

“Em mua được hết,” Michael nói. “Và thật là may mắn đó anh Howl. Có một cái tiệm đang rao bán ở dưới Market Chipping. Một tiệm nón cũ. Anh nghĩ mình nên chuyển tòa lâu đài xuống đó không?”

Howl ngồi trầm ngâm trên cái ghế cao trong miếng vải quấn quanh người như một viên nghị sĩ La Mã xưa. “Tùy theo giá của nó nữa,” anh nói. “Tôi cũng muốn chuyển cổng Porthaven tới đó. Nhưng sẽ không dễ đâu, bởi vì chuyện đó có nghĩa là phải chuyển cả Calcifer nữa. Porthaven là nơi ở thực chất của Calcifer. Cậu nghĩ sao hả, Calcifer?”

“Tớ mà chuyển đi thì mệt lắm,” Calcifer đáp. Cậu ta đã trở nên xanh xao hơn với ý nghĩ đó. “Cậu để tớ ở chỗ cũ thì hơn.”

Vậy là dì Fanny đang bán cửa tiệm, Sophie nghĩ khi ba người còn lại tiếp tục thảo luận về việc dời nhà. Vậy là xong cái lương tâm mà Howl tự khoe là có! Nhưng ý chính trong đầu cô là cách cư xử kỳ lạ của con chó. Mặc dù Sophie nói nhiều lần là cô không thể cởi bỏ lời nguyền được, y hoàn tòan không có vẻ gì muốn bỏ đi. Y không muốn cắn Howl. Y để Michael dắt đi chạy bộ trong Porthaven Marshes tối đó và sáng hôm sau. Mục tiêu của y dường như là trở thành một phần tử của gia đình.

“Nếu ta là ngươi, ta sẽ trở về Upper Folding để chăm sóc Lettie không cho nó yêu người khác,” Sophie bảo.

Howl cứ liên tục đi nằm rồi lại đi ra khỏi giừơng cả ngày. Khi anh nằm trong giường, Michael phải chạy bở hơi tai lên xuống cầu thang. Khi anh dậy, Michael phải vắt chân lên cổ, đo tòa lâu đài và đặt dấu kim loại vào mỗi góc nhà. Xen kẽ vào những lúc ấy, là Howl cứ hiện ra, mình quấn trong tấm khăn trải giường và đám mây bụi, hỏi han và thông báo, phần lớn là nói với Sophie.

“Sophie, bà là người đã tẩy trắng các dấu ấn chúng tôi làm khi tạo nên lâu đài, có lẽ bà có thể cho tôi biết các dấu ấn trong phòng Michael ở đâu.”

“Không,” Sophie đáp, tay khâu miếng vải hình tam giác thứ bảy mươi. “Tôi không biết.”

Howl hắt hơi buồn bã và đi nằm. Không lâu sau anh hiện ra nữa. “Sophie, nếu ta mua cái tiệm nón đó, thì ta sẽ bán gì?”

Sophie nhận ra mình đã chán chê nón đến tận cổ. “Không phải nón,” cô trả lời. “Mua được cửa hàng, nhưng không thể mua được doanh nghiệp, cậu biết đấy.”

“Áp dụng tâm trí quỷ quái của bà vào chuyện đó đi,” Howl nói. “Thậm chí là suy nghĩ, nếu bà biết cách.” Và anh lại bước lên trên lầu.

Năm phút sau, anh trở lại. “Sophie, bà có ý tưởng nào cho những cái cổng khác không? Bà muốn ta sống ở đâu?”

Sophie tức thời nghĩ đến căn nhà của dì Fairfax. “Tôi thích một căn nhà với nhiều hoa,” cô nói.

“Hiểu rồi,” Howl cất giọng khàn khàn và quay đi.

Lần sau gặp, anh đã đóng bộ đàng hoàn. Đó là lần thứ ba trong ngày, và Sophie không nghĩ gì cho đến khi Howl đặt lên áo khoác nhung Michael đã dùng và biến thành một người đàn ông râu đỏ, xanh xao, ho hen, với một cái khăn tay đỏ gắn trên mũi. Cô nhận ra Howl đang sắp đi ra ngòai. “Cậu sẽ bệnh nặng hơn cho coi,” cô nói.

“Tôi sẽ chết và mấy người sẽ hối hận,” người đàn ông râu đỏ nói, và đi ra cửa với nút vặn xuống màu xanh lơ.

Trong một giờ sau, Michael phải có thời gian để nghiên cứu tiếp cái thần chú. Sophie tiếp tục khâu đến miếng tam giác thứ tám tư. Rồi người râu đỏ trở lại. Ông bỏ áo khoác nhung và biến thành Howl, càng ho dữ dội hơn trước, và, nếu còn có thể, tự thấy thương cảm cho mình hơn bao giờ.

“Anh đã mua cái tiệm,” anh bảo Michael. “Đằng sau nó có cái nhà kho rất tiện lợi và một căn nhà kế bên, anh mua đứt hết. Không biết sẽ trả bằng gì giờ.”

“Vậy còn khoản tiền nếu anh tìm được Vương gia Justin thì sao?” Michael hỏi.

“Cậu quên,” Howl khò khè, “mục đích của cả cái hành động này là để không phải tìm Justin. Chúng ta sẽ biến mất.” Rồi anh ho sù sụ lên phòng, nơi anh bắt đầu những cái hỉ mũi rung chuyển cả xà nhà để gợi sự chú ý lần nữa.

Michael phải bỏ câu thần chú lại và phóng lên cầu thang. Sophie đã định đi, nhưng người-chó cản lại. Đó là một hành vi kì lạ của y nữa. Y không thích Sophie làm gì cho Howl. Sophie cảm thấy đó là một lý do khá hợp lý. Cô bắt đầu làm tiếp miếng tam giác thứ tám mươi lăm.

Michael phấn khởi bước xuống nhà và lại nghiên cứu câu thần chú nữa. Cậu bé vui đến nỗi hòa ca với bài hát chảo chiên của Calcifer và trò chuyện với cái sọ người cũng như Sophie. “Chúng ta sẽ cùng sống ở Market Chipping,” cậu nói. “Cháu sẽ thăm em Lettie mỗi ngày.”

“Đó là nguyên nhân cậu bảo Howl về cửa tiệm đó à?” Sophie hỏi, tiếp tục khâu vá. Đây là cái hình tam giác thứ tám mươi chín của cô.

“Vâng” Michael vui vẻ nói. “Lettie kể cho cháu nghe khi hai đứa đang không biết làm cách nào gặp lại được. Cháu bảo em…”

Lời cậu nói bị Howl, đang thướt tha xuống cầu thang trong bộ khăn trải giường, cắt ngang. “Lần này chắc chắn là lần xuất hiện cuối cùng của tôi,” Howl nói. “Tôi quên nói là đám tang bà Pentstemmon cử hành ngày mai ở biệt thự gần Porthaven, và tôi cần bộ quần áo này giặt sạch sẽ.” Anh thò tay lấy bộ áo xám đỏ từ trong khăn quấn và thả xuống đùi Sophie. “Bà đang khâu sai bộ rồi,” anh bảo Sophie. “Đây mới là bộ áo mà tôi thích, nhưng tôi không đủ năng lượng để giặt nó.”

“Anh có cần thiết phải đi dự tang lễ?” Michael băn khoăn hỏi.

“Tôi không dám nghĩ đến việc không đi,” Howl đáp. “Bà Penstemmon đã đào tạo tôi thành một pháp sư ngày nay. Tôi phải đi phúng điếu.”

“Nhưng bệnh của anh nặng hơn rồi,” Michael nói.

“Tự cậu ta làm mình bệnh nặng hơn,” Sophie tiếp, “cứ lên lên xuống xuống chạy vòng vòng.”
Howl lập tức khoác bộ mặt trang trọng nhất. “Tôi sẽ không sao,” anh khò khè, “chỉ cần không gặp gió biển thôi. Đó là một nơi khắc nghiệt, biệt thự Pentstemmon. Hàng cây đều cong vẹo và không có chỗ trú chân hàng dặm.”

Sophie biết anh chỉ đóng vai đáng thương tội nghiệp. Cô khì mũi.

“Còn mụ phù thủy thì sao?” Michael hỏi.

Howl lại ho. “Tôi sẽ hóa trang, có thể là vai một xác chết khác,” anh nói, lướt thướt quay lên trên cầu thang.

“Vậy thì cậu cần khăn liệm, không phải bộ áo này,” Sophie nói với với theo. Howl không trả lời. Sophie cũng không nói thêm. Bây giờ cô đã có bộ áo bị phù phép trong tay, một cơ hội hiếm có. Cô lấy cái kéo và cắt bộ xám đỏ thành bảy miếng rách nát. Chắc chắn Howl sẽ không thèm đến nó nữa. Rồi cô trở lại công việc khâu vá những miếng tam giác cuối cùng của bộ áo xanh bạc, hầu hết là xung quanh cổ. Bộ áo bây giờ rất là nhỏ, còn không vừa cho những cậu bé tiểu đồng của bà Pentstemmon nữa.

“Michael,” cô nói. “Làm nhanh cái thần chú đó lên. Việc gấp lắm.”

“Không còn lâu nữa đâu,” Michael đáp.

Nửa giờ sau, Michael đánh dấu danh sách của mình và nói là cậu đã sẵn sàng. Cậu bé mang một cái chén nhỏ chứa một tí xíu bột màu xanh đến cho Sophie. “Bà muốn làm to ở đâu?”

“Đây,” Sophie nói, tay cắt sợi chỉ cuối cùng. Cô đẩy người-chó qua một bên để trải bộ áo con nít trên sàn nhà. Michael, rất thận trọng, nghiêng cái chén và rải bột lên trên áo.

Cả hai chờ đợi, khá sốt ruột.

Một giây trôi qua. Michael thở phào nhẹ nhõm. Cái áo nhẹ nhàng giãn ra bự hơn. Hai người trông nó từ từ giãn ra, giãn ra, cho đến khi một bên áo cuộn thành đống cạnh người-cho và Sophie phải kéo nó ra cho rộng.

Sau cỡ năm phút, cả hai đều đồng ý là bộ áo trông vừa với Howl rồi. Michael cầm nó lên và cẩn thận rũ bột dư vào trong lò sưởi. Calcifer rực sáng lên càu nhàu, làm người-chó phải nhảy dựng lên trong giấc ngủ.

“Cẩn thận ấy!” Calcifer hét. “Bột mạnh.”

Sophie lấy bộ áo và nhón chân rón rén lên cầu thang. Howl vẫn ngủ say trên những cái gối xám, nhền nhện bận bịu giăng tơ xung quanh. Anh có vẻ nghiêm trang và đáng thương trong giấc ngủ. Sophie rón rén đặt bộ quần áo xanh bạc trên cái rương cũ kỹ cạnh cửa sổ, trấn an mình là nó không lớn lên thêm kể từ khi cô cầm nó trong tay. “Tuy vậy, nếu nó làm cậu không đi đám tang được thì cũng không có gì đáng tiếc,” cô thì thầm khi nhìn ra ngoài cửa sổ.

Mặt trời ngòai sân bắt đầu xuống thấp. Một người đàn ông cao lớn ở đó, ông nhiệt tình quẳng một trái bóng đỏ cho cháu trai của Howl, Neil. Cậu bé đứng với vẻ lặng lẽ chịu đựng, tay nắm cây chày. Sophie có thể nhận ra người đó là cha của Neil.

“Lại rình mò,” Howl thình lình nói sau lưng. Sophie quay lại vẻ hối lỗi, và thấy Howl vẫn còn nửa tỉnh nửa mê. Anh có thể nghĩ bây giờ là hôm qua, bởi vì anh nói, “ ‘Dạy tôi tránh khỏi vết chích của ghen tị’ – đó chỉ là một phần của quá khứ. Tôi yêu xứ Wales, nhưng nó không yêu tôi. Megan lúc nào cũng đầy ganh tị bởi vì chị ấy là người có mặt mũi mà tôi thì không.” Rồi anh tỉnh hơn một chút, và hỏi, “Bà làm gì ở đây vậy?”

“Chỉ mang cái áo đến thôi,” Sophie đáp và nhanh chóng lạch bạch ra khỏi phòng.

Howl chắc đã ngủ lại. Anh không xuất hiện cho đến buổi tối. Sáng hôm sau vẫn không có dấu hiệu anh sẽ tỉnh dậy. Sophie và Michael cẩn thận không đánh thức anh. Không ai cho việc đi dự đám tang bà Pentstemmon là sáng suốt. Michael lén đi ra ngòai đồi để dẫn người-chó chạy bộ. Sophie kiễng chân đi rón rén trong nhà, chuẩn bị bữa sáng, hi vọng Howl sẽ ngủ dậy muộn. Vẫn không có dấu hiệu gì của Howl khi Michael trở về. Người-chó đói rã rượi. Sophie và Michael đang lục lọi trong nhà kho để kiếm thức ăn chó thì nghe tiếng Howl chầm chậm xuống cầu thang.

“Sophie,” giọng Howl buộc tội cô.

Anh đứng đó giữ cánh cửa trước cầu thang mở toang ra với một cánh tay hoàn toàn giấu trong tay áo màu xanh bạc mênh mông. Chân anh, trên bậc thang dưới, đang đứng trong nửa phần trên cái túi của cái khoác. Cánh tay kia của Howl không đến gần được cái cánh tay áo còn. Sophie có thể nhìn thấy đường viền của tay, đang khua khua dưới cái cổ áo rộng lớn. Phía sau Howl, những bậc thang phủ đầy chùm vải màu xanh bạc kéo đến phòng ngủ của anh.

“Oh, chời!” Michael thốt. “Howl, là lỗi của em, em…”

“Lỗi em? Hừ!” Howl đáp. “Tôi có thể nhận diện ngay bàn tay của Sophie từ một dặm xa. Và cái bộ áo này có đến vài dặm lận. Sophie thân mến, bộ áo kia của tôi đâu?”

Sophie vội vàng đem những mảnh của bộ áo xám đỏ ra khỏi phòng chứa đồ, nơi cô cất giấu.
Howl xem xét. “Well, thiệt tình mà.” Anh nói. “Tôi tưởng nó phải quá nhỏ để mà nhìn thấy. Đem nó lại đây, tất cả bảy miếng.” Sophie giơ đống vải xám đỏ cho anh. Howl phải mất một lúc mới tìm thấy bàn tay mình trong đống gấp của cánh tay áo màu xanh bạc và thò tay qua vết khâu khổng lồ giữa hai sợi chỉ. Anh chụp lấy bó vải trong tay cô. “Bây giờ tôi,” anh nói, “sẽ chuẩn bị đi dự tang lễ. Làm ơn đi, cả hai người, ráng đừng làm bất cứ việc gì cả trong khi tôi vắng mặt. Tôi có thể nhìn thấy Sophie đang rất khỏe mạnh trong giờ phút này, và tôi muốn căn phòng này vẫn giữ nguyên kích thước khi tôi trở lại.”

Anh ngẩng cao đầu hết sức kiêu hãnh đi vào buồng tắm, chân lội qua đống vải của bộ áo xanh bạc. Phần còn lại của bộ áo theo sau anh, kéo lê từng bậc thang một và kêu xào xạc trên sàn nhà. Lúc anh khuất trong phòng, mép áo choàng nằm trên sàn và cái quần xuất hiện trên cầu thang. Howl khép hờ cửa phòng tắm lại và tay kéo từng chút của bộ áo vào trong. Sophie, Michael và người-chó đứng nhìn từng hàng từng hàng vải xanh xen bạc chạy trên sàn, trang trí bằng một cái nút bạc to cỡ cục đá tảng và những cọng chỉ là những sợi dây thừng khổng lồ. Có lẽ là gầnmột dặm vải như thế.

“Cháu không nghĩ là cháu đã làm đúng cái thần chú đó,” Michael nói khi phần vải khổng lồ cuối cùng biến mất sau cánh cửa phòng tắm.

“Và anh ta đã cho cậu biết thế!” Calcifer phán. “Làm ơn cho tớ thanh củi.”

Michael đưa một khúc gỗ cho Calcifer. Sophie cho người-chó ăn. Không ai dám làm gì cả ngòai việc ăn sáng bằng bánh mì phết mật ong cho đến khi Howl ra khỏi phòng tắm.

Hai giờ sau Howl mới bước ra ngoài, hơi nước thoang thoảng mùi hương cỏ thơm. Tòan người anh là màu đen. Quần áo đen, ủng đen, và tóc cũng màu đen, cùng một màu xanh đen như tóc cô Angorian. Trên tai lủng lẳng một hoa tai dài đen nhánh. Sophie không biết có phải mái tóc đen là để tưởng nhớ đến Penstemmon phu nhân hay không. Cô đồng ý với bà Pentstemmon là tóc đen hợp với Howl hơn. Nó làm nổi bật cặp mắt màu xanh thủy tinh của anh. Nhưng cái làm cô bận tâm nhiều hơn là bộ áo màu đen thật sự là bộ nào.

Howl tự phù phép một khăn tay đen và hỉ mũi vào đó. Cửa sổ lung lay. Anh nhặt mảnh bánh vụn trên ghế và ra dấu cho người-chó. Người-chó nhìn anh nghi ngờ. “Tao chỉ muốn mày đến đây để tao nhìn kỹ thôi,” Howl khò khè. Bệnh cúm của anh vẫn còn. “Đến đây, cưng.” Khi con chó miễn cưỡng bò đến chính giữa phòng thì Howl thêm, “Bà không tìm thấy bộ áo kia của tôi đâu, bà Rình Mò. Bà sẽ không bao giờ được động vào quần áo tôi nữa.”

Sophie ngừng nhón chân vào phòng tắm và nhìn Howl đi vòng quanh người-chó, ăn bánh phết mật ong, lại vừa hỉ mũi xì xì.

“Cậu nghĩ hóa trang này như thế nào?” anh nói. Anh quẳng cái khăn giấy đen thui về chỗ Calcifer và bắt đầu cúi mình xuống đất. Gần như khi anh làm vậy, anh biến mất. Khi tay chạm đất thì anh đã biến thành một chú chó lông xù màu đỏ, y như người-chó.

Người-chó hoàn tòan ngạc nhiên và bản năng tự vệ nổi lên. Lông nó xù lên, tai quặp xuống, và miệng nó gầm gừ. Howl bắt chước – hoặc anh cũng cảm thấy như vậy. Hai con chó giống hệt nhau đi vòng quanh, trừng mắt, gầm gừ, xù lông, sẵn sàng đánh nhau.

Sophie túm cái đuôi của con chó mà cô nghĩ là người-chó. Michael túm con chó mà cậu nghĩ là Howl. Howl nhanh chóng biến thành hành người. Sophie nhìn thấy một người áo đen cao lớn đứng trước mặt mình và buông tay ra khỏi áo Howl. Người-chó ngồi dưới chân Michael, nhìn thất vọng.

“Tốt,” Howl nói. “Nếu tôi có thể gạt con chó khác, tôi có thể gạt tất cả những người khác. Không ai tại đám tang sẽ để ý đến một con chó hoang nhấc chân chạm vào mộ bia.” Anh ra cửa và vặn nút xanh dương xuống dưới.

“Khoan đã,” Sophie cất tiếng. “Nếu cậu định đi dự đám tang trong lớp một con chó lông đỏ, sao lại còn mắc công bận đồ đen làm gì?”

Howl hất mặt lên vẻ trang nghiêm. “Để tôn trọng bà Pentstemmon,” anh trả lời, tay mở cửa. “Bà ấy là người chú ý đến các chi tiết.” Anh bước ra con đường của Porthaven

Chương 16: trong đó có rất nhiều ma thuật

Vài giờ trôi qua. Người-chó lại đói bụng. Michael và Sophie quyết định ăn trưa. Sophie tay cầm chảo chiên tiến đến gần Calcifer.

“Sao hai người không thử ăn bánh mì với cheese chứ?” Calcifer cằn nhằn.

Tuy thế, hỏa yêu cũng cúi đầu xuống. Sophie vừa mới đặt chảo chiên trên đầu ngọn lửa xanh lục thì có tiếng Howl vang lên khàn khàn từ trên không.

“Cẩn thận đó, Calcifer! Mụ đã tìm được ta!”

Calcifer bật thẳng dậy. Cái chảo chiên rớt xuống chân Sophie.

“Bà phải chờ thôi!” Calcifer hét, người bừng cháy rực rỡ lên thẳng ống khói. Gần như trong tích tắc cậu biến hóa thành cả chục khuôn mặt xanh dương, như là đã bị ai đó lắc mạnh, và cháy với tiếng rền rĩ to lớn.

“Vậy là họ đang đánh nhau đó,” Michael thầm thì.

Sophie ngậm ngón tay bị bỏng vào miệng và tay kia nhặt mấy mảnh thịt sấy khô rơi trên váy, mắt không rời Calcifer. Y đang nghiêng ngả trong bếp lò. Những khuôn mặt của hỏa yêu chuyển từ màu xanh đậm đến xanh thanh thiên và rồi gần như trắng bạch. Một giây y còn có vô vàn đôi mắt màu cam, phút sau, hàng sao bàng bạc. Cô chưa bao giờ tưởng tượng được lại có những điều như thế.

Có gì đó quét trên đầu với tiếng ầm ầm và bùm bùm làm mọi vật trong phòng đều chấn động. Theo sau là một vật gì đó, với tiếng rú rít the thé. Calcifer chuyển màu xanh đen, và làn da Sophie gần như cháy xém từ hậu chấn của ma thuật.

Michael lết tới cửa sổ. “Bọn họ kéo tới đây rồi!”

Sophie bò tới cửa sổ luôn. Cơn bão ma thuật dường như ảnh hưởng đến của nửa thị trấn. Cái sọ người đánh răng cồm cộp đến nỗi nó phải nhảy lòng vòng. Các bịch giấy nhảy chồm chồm. Bột cháy xém. Một cuốn sách rớt khỏi kệ, nằm trên sàn, các trang giấy lật qua lật lại. Dòng suối nước nóng tràn ra khỏi phòng tắm ngập một góc phòng, ở góc khác, cây đàn guitar của Howl khảy lên vài tiếng lạc điệu. Và Calcifer càng quay mình nhanh hơn bao giờ.

Michael đặt cái đầu lâu lên bồn rửa mặt để không cho nó khua lộp cộp trên sàn khi cậu mở cửa sổ và nghểnh cổ ra ngoài. Bất cứ việc gì đang xảy ra cũng xảy ra ở phía xa khuất khỏi tầm nhìn. Những nhà bên cạnh cũng đều mở cửa chính và cửa sổ ra, chỉ trỏ vào cái gì đó ở đường chân trời. Sophie và Michael chạy đến phòng chứa đồ, túm lấy áo choàng nhung và khoác lên mình. Sophie lấy được cái biến người mặc thành người đàn ông râu đỏ. Bây giờ cô biết tại sao Calcifer đã cười khi cô mặc áo kia. Michael hóa thành một con ngựa. Nhưng bây giờ không phải lúc cười. Sophie bước ra đường, theo sau là người chó, y có vẻ rất điềm tĩnh. Michael chạy nước kiệu theo cô, móng ngựa vô hình khua lộp cộp, bỏ Calcifer biến màu xanh đến trắng đằng sau họ.

Con đường đầy những người đang ngưỡng cổ lên nhìn trên trời. Không ai chú ý đến mấy con ngựa đang chạy ra khỏi chuồng. Sophie và Michael cũng nhìn lên, họ thấy một vầng mây lớn bốc lên và xoắn tít trên các đỉnh ống khói. Nó có màu đen kịt và quay vòng vòng mãnh liệt. Những làn sáng trắng không giống ánh chớp lóe lên xuyên qua đó. Nhưng gần như cùng lúc với Michael và Sophie đến, cụm mây ma thuật đổi hình dạng hình nhiều con rắn đang đánh nhau. Rồi nó bị xẻ ra làm hai, âm thanh khủng khiếp như tiếng hai con mèo đang đánh lộn. Một nửa hú lên và chạy thật nhanh trên nóc, ra ngòai biển lớn, và nửa thứ nhì cũng hét lên đuổi theo.

Một vài người vội chạy vào trong nhà. Sophie và Michael gia nhập đoàn người can đảm hơn đi xuống con đường dốc đến bến cảng. Khi đến đó, mọi người ai cũng nghĩ chỗ đứng xem tốt nhất là cạnh bức tường bao quanh bến. Sophie lạch bạch tìm chỗ đứng gần đó, nhưng không cần thiết phải đi xa hơn cái chòi của người bảo vệ cảng. Hai đám mây đậu giữa lưng chừng trời, một số ở tuốt ngoài biển, bên kia bức tường cảng, chỉ có hai đám mây trên bầu trời xanh thẳm. Rất dễ để nhận biết chúng. Cũng rất dễ để nhìn thấy mảng tối của cơn bão đang vần vũ trên biển giữa đám mây, tạo nên những cơn sóng lớn. Có một con tàu xui xẻo ở giữa cơn bão đó. Những cột buồm bị chao đảo dữ dội. Mọi người có thể nhìn thấy vòi nước dập vào các cạnh thuyền. Thủy thủ liều mạng cố điều khiển cánh buồm, nhưng một lá đã bị xé rách tanh bành.

“Họ không tránh con thuyền đó được sao!” một người phẫn nộ cất tiếng.

Rồi gió, và sóng của cơn bão đánh vào tường bến cảng. Nước trắng xóa quất vào và những người can đảm bên bức tường chạy vội vào bên trong, nơi nhưng cánh buồm nặng nề đang neo. Giữa đám lộn xộn này là tiếng hét trong giọng cao vút như là tiếng hát. Sophie đưa mặt ra ngoài cơn gió ngoài túp lều, nơi tiếng hét phát ra, cô khám phá ma thuật dữ dội không chỉ quấy rầy sóng biển và những con tàu khốn khổ. Những thiếu nữ ướt át, mình mẩy trơn láng với mái tóc xanh nâu tung bay đang kéo mình lên bức tường bến cảng, các cô đang kêu thét lên, và giơ bàn tay dài, ướt đẫm ra cho nhiều thiếu nữ ướt át khác nữa đang bị sóng dập vùi. Tất cả bọn họ đều có đuôi cá thay vì chân.

“Quỷ thần ơi!” Sophie thốt. “Mỹ nhân ngư trong lời nguyền!” Vậy là chỉ còn hai điều bất khả thi sẽ thành sự thật.

Cô ngước nhìn lên hai đám mây. Howl đang quỳ gối trên đám mây bên trái, to hơn và gần hơn là cô tưởng. Anh vẫn còn trong bộ cánh đen. Không ngạc nhiên, anh đang ngước qua vai để xem những người cá đang hoảng hốt. Ánh mắt không biểu hiện là anh nhớ họ qua lời nguyền gì cả.

“Chú ý vào mụ phù thủy!” con ngựa bên cạnh Sophie hét lên.

Mụ phù thủy thình lình hiện ra, đứng trên ngọn mây bên phải, trong bộ trang phục màu lửa đỏ, mái tóc đỏ xõa dài, hai cánh tay giơ lên kêu gọi ma thuật. Khi Howl quay lại nhìn bà ta, cánh tay giáng xuống. Đám mây của Howl bùng cháy thành một dòng suối lửa màu hồng. Hơi nóng từ đó tuôn chảy khắp bến cản, và những tảng đá trên tường bốc hơi.

“Không sao!” con ngựa thở hổn hển.

Howl đứng trên con thuyền đang gần chìm trong cơn giông bão. Anh giờ là một hình ảnh bé nhỏ màu đen, đứng dựa vào cây cột buồm chính. Anh vẫy tay chọc quê để cho mụ phù thủy biết bà ta đã đánh hụt. Mụ phù thủy nhìn thấy ngay khoảnh khắc mà anh đưa tay lên. Cụm mây, phù thủy, và tất cả ngay lập tức biến thành một con chim đỏ khổng lồ, bay xuống tấn công con thuyền.

Con thuyền biến mất. Mỹ nhân ngư hét lên sợ hãi buồn rầu. Không còn gì ngoài những đợt sóng nơi con thuyền đứng. Nhưng con chim đỏ đang bay quá nhanh để mà ngừng lại. Nó bổ nhào xuống biển, tạo nên một cột sóng khổng lồ.

Mọi người đứng bờ đều cất tiếng hò reo. “Tớ biết ngay đó không phải là con tàu thật mà!” một người đứng sau lưng Sophie nói.

“Đúng đó, ắt hẳn là giả thôi,” con ngựa đáp vẻ thông thái. “Nó nhỏ quá chừng.”

Để chứng minh cho việc con thuyền thực ra gần hơn là ta thấy, những ngọn sóng từ chấn động bắn lên tường thành trước khi Michael ngừng nói. Ngọn đồi nước màu xanh cao hơn hai mươi feet nổi lên, đẩy người cá vào trong bến cảng, hất tung những con tàu đang nằm neo hai bên, và dộng ầm ầm từng cuộn vào căn chòi của người trông coi bến cảng. Một cánh tay từ hông con ngựa thò ra và đẩy Sophie trở ngược vào bên trong. Sophie giật mình và trợt chân vào trong vũng nước bùn. Người-chó đứng ngay bên cạnh, cả người ướt đẫm.

Họ vừa lùi sát vào tường, và những con thuyền trong bến cảng vừa mới dựng lại thẳng đứng, thì một ngọn nước cao như núi chạy thẳng vào tường cảng. Một con quái vật khổng lồ từ trong làn nước xổ tung ra. Thân mình nó dài, màu đen, nửa mèo, nửa hải sư, xộc thẳng vào trên bến. Một con quái vật khác cũng bung ra từ đợt sóng đang đập vào trong bến cảng, cũng mình dài thườn thượt, nhưng nhiều vảy hơn, và chạy đuổi theo con quái đầu tiên.

Mọi người nhận ra trận đấu chưa đến hồi kết và ướt lướt thướt chạy nhanh đến những căn chòi và nhà trong bến. Sophie vướng một sợi dây và vấp vào một bậc thềm. Cánh tay thò ra khỏi con ngựa và kéo cô đứng dậy khi hai con quái vật quần thảo nhau trên biển mặn. Một đợt sóng xoay vòng trên tường biển cả, và hai con quái vật nữa xuất hiện. Bọn chúng tương tự như hai con đầu tiên, trừ việc con nhiều vẩy gần con mèo hơn. Và đợt sóng kế mang thêm hai con nữa gần sát nhau nữa.

“Chuyện gì vậy?” Sophie the thé khi cặp quái thú thứ ba chạy ngang qua, bước chân làm rung chuyển những tảng đá.

“Ảo tượng,” giọng Michael phát ra từ con ngựa, “Một số. Bọn họ định gạt đối phương rượt theo con ảo.”

“Thế ai là ai?” Sophie hỏi.

“Ai mà biết,” ngựa đáp.

Một số người quan sát thấy mấy con quái thú thật đáng sợ. Nhiều người đã về nhà. Một số khác nhảy xuống các con tàu để đuổi quái vật khỏi bến. Sophie và Michael tham gia đám người xem điên cuồng đang chạy qua những con đường của Porthaven đuổi theo đám quái vật. Trước tiên họ đuổi theo dòng sông nước biển, rồi đến vết chân ướt khổng lồ, rồi cuối cùng là vết trầy xước màu trắng nơi móng vuốt của các con quái để lại trên các tảng đá lót đường. Những dấu hiệu đó dẫn mọi người đến phía sau thị trấn chỗ đầm lầy nơi Sophie và Michael đã đuổi bắt sao rơi.

Lúc ấy thì cả sáu quái thú chỉ còn là sáu chấm đen nhỏ nhảy nhót, biến mất vào khoảng không gian rộng lớn. Đám đông đứng rải rát trên bờ, chăm chú nhìn, vừa hi vọng sẽ thấy nữa, vừa sợ điều họ sẽ nhìn thấy. Sau một hồi lâu không ai còn thấy gì ngòai đầm lầy trống rỗng. Không có gì xảy ra hết. Vài người bắt đầu quay lưng bước đi, khi dĩ nhiên mọi ngưới la lên, “Xem kìa!” Một trái cầu lửa bay lên là đà ở đằng xa xa. Nó chắc chắn rất là khổng lồ. Tiếng chấn động của nó chỉ đến với người xem khi quả cầu lửa đã trở thành tòa tháp khói khổng lồ. Hàng người đều giật mình trước tiếng động như sấm sét của nó. Họ đứng theo dõi làn khói lan ra cho đến khi nó trở thành một phần của sương mù trên bãi lầy. Bọn họ tiếp tục đứng xem. Những chỉ có yên lặng. Làn gió thổi cỏ trên đầm, và chim lại bắt đầu cất tiếng hót.

“Tớ chắc là họ đã tự huỷ diệt nhau rồi,” người ta nói. Đám đông dần dần tách ra thành những cá nhân riêng rẽ trở lại công việc mà họ đã bỏ dở.

Sophie và Michael cứ đứng chờ mãi, cho đến khi rõ ràng là mọi việc thật sự đã hết. Họ chầm chậm cất bước trở về. Không ai muốn nói gì cả. Chỉ có người-chó dường như rất vui sướng. Nó bước đi cạnh họ vui vẻ đến nỗi Sophie chắn chắn là y nghĩ Howl đã tiêu thật rồi. Y vui vẻ yêu đời đến mức khi họ đến con đường về nhà của Howl, có một con mèo hoang đang đi qua đường, người-chó sủa lên một tiếng vui vẻ và chạy nhanh theo sau nó. Y rượt thật là nhanh như chớp đến thềm cửa lâu đài, nơi con mèo quay lại và liếc nhìn.

“Lượn đi!” nó meo. “Tôi chỉ cần thế này thôi!”

Con chó lùi lại một bước, xấu hổ.

Michael nhảy một bước đến cổng. “Howl!” cậu hét.

Con mèo thu nhỏ thành chú mèo con và trong rất đau khổ. “Và hai người trông tức cười ghê kìa!” nó nói. “Mở cửa đi. Tôi mệt rồi.”

Sophie mở cửa và con mèo lết vào nhà. Mèo lết đến gần lò sưởi, nơi Calcifer chỉ còn là một đốm lửa xanh nhỏ, và cố hết sức, đưa chân trước lên ghế. Nó ưỡn người chầm chậm thành Howl, đang cúi mình.

“Anh có giết bà phù thủy chưa?” Michael hăng hái hỏi, tháo áo choàng ra và trở lại thành người.

“Chưa,” Howl đáp. Anh uể oải ngả người vào ghế, dáng điệu mệt mỏi. “Mà tôi còn đang bị cảm nữa chứ!” anh rên. “Sophie, làm ơn tội nghiệp tôi, cởi cái chòm râu đỏ kinh khủng đó ra và lấy tôi chai rượu đỏ trong tủ – trừ khi bà đã uống hết rồi và chế vào đó thuốc đỏ.”

Sophie cởi áo choàng, đi tìm rượu đỏ và một cái ly. Howl uống ực một cái như thể nước lã. Rồi anh đổ một ly nữa, thay vì uống, anh rẫy nhẹ lên mình Calcifer. Hỏa yêu bừng lên và kêu tí tách, dường như hồi sinh được một chút. Howl rót ly thứ ba và ngả người uống từ tốn. “Đừng có đứng nhìn tôi!” anh nói. “Tôi không biết ai thắng. Mụ phù thủy rất khó đối phó. Bà ta dựa vào sức mạnh của hỏa yêu rất nhiều, và nó ở nơi khác. Nhưng chúng ta cũng đánh cho bà ta tan tác, eh, Calcifer?”

“Nó già rồi,” Calcifer thì thầm tí tách dưới đống củi. “Tớ mạnh hơn, nhưng nó biết nhiều việc tớ không nghĩ tới. Bà ta đã có nó hơn trăm năm. Và nó đánh tớ ngất ngư!” Y bùng lên một chút, rồi trèo lên đống củi để than vãn, “Cậu có thể cảnh cáo tui chứ!”

“Tớ nói rồi!” Howl đáp mệt mỏi. “Cậu biết mọi thứ tớ biết.”

Howl nằm đó hớp từng ngụm rượu đỏ trong khi Michael đi lấy bánh và xúc xích. Thức ăn làm bọn họ hồi sinh, có lẽ trừ người-chó, y dường như hiền hơn khi Howl trở lại. Calcifer bắt đầu cháy mạnh và trở nên màu xanh như thường.

“Thế này không được!” Howl nói. Anh đứng bật dậy. “Chuẩn bị đi, Michael. Mụ phù thủy đã biết ta ở Porthaven. Chúng ta sẽ không chỉ phải dời lâu đài và cổng Kingsbury nữa. Ta phải chuyển Calcifer đến căn nhà có tiệm bán nón đó.”

“Chuyển tớ?” Calcifer thét lên. Mặt chuyển sang màu đỏ ửng kinh hoàng.

“Đúng thế,” Howl nói. “Cậu có lựa chọn giữa Market Chipping hay là mụ phù thủy. Đừng có khó tính.”

“Mắc dịch!” Calcifer rên và thụt xuống lò.

*Túm Chân* Chỉ Một Lời Thôi Người Ơi...... ≧▽≦ ≧◡≦ (^_−)−☆ ↖(^ω^)↗ ◑ω◐ OTL ♉( ̄▿ ̄)♉ ┬_┬ ლ(¯ロ¯ლ) ╮(‾▿‾)╭╮(╯_╰)╭ (╰_╯) ⊙﹏⊙ o(︶︿︶)o | ♥‿♥ | ◙‿◙ | ^( ‘‿’ )^ | ^‿^ | 乂◜◬◝乂 | (▰˘◡˘▰) | ಥ_ಥ | ►_◄ | ಠ_ರೃ | ಠ╭╮ಠ | ಠ,ಥ | ໖_໖ | Ծ_Ծ | ಠ_ಠ | ●_● | (╥﹏╥) | (ு८ு (*´∀`*)人(*´∀`*) (ノ´ヮ´)ノ*** (눈‸눈) (≧▽≦)/ ~(╯^╰)~ ≧__≦ (▰˘◡˘▰) (╯*‵□′)╯┻━┻ ╭(๑¯д¯๑)╮ (━┳━ _ ━┳━) Σ( ° △ °|||) ≡( ¯O¯¯)≡ ~(‾▿‾~ ) (¯▽¯)~* ≧’◡’≦ (づ ˘ ³˘)づ~♥ ♉( ̄▿ ̄)♉ (¯﹃¯) | (‾-ƪ‾) | (⊙︿⊙) | (>﹏﹏‘o’)> <(‘o’﹏<)o (●´ω`●) (• ε •) (✖╭╮✖) o(╥﹏╥)o (`・ω・´) Ƹ̴Ӂ̴Ʒ εїз ♦ ♣ ♠ ♥ ♪ ♫ ☼ ✿ ✰ ✱✳ ❀ ❄ ❉ ❋ ❖ ⊹ ♧ ☀ ツ ⓛ ⓞ ⓥ ⓔ ღ ☼★ ٿ ۩ ☽ ☝☂ ☁ ☀ ☾☽ ☞ ❤ ☺️

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s